<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>LAM HỒNG &#187; Giáo lý Công giáo</title>
	<atom:link href="http://www.lamhong.org/category/giao-duc-kito-giao/giao-ly-cong-giao/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.lamhong.org</link>
	<description>Những nẻo đường đức tin...</description>
	<lastBuildDate>Tue, 21 May 2013 06:36:52 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.5.1</generator>
		<item>
		<title>Thánh Thể</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2013/04/06/thanh-the/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2013/04/06/thanh-the/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 06 Apr 2013 03:39:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Fx. Nguyễn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Suy tư - Chia sẻ]]></category>
		<category><![CDATA[Bí tích Thánh Thể]]></category>
		<category><![CDATA[Bí tích Tình Yêu]]></category>
		<category><![CDATA[thánh thể]]></category>
		<category><![CDATA[Trầm Thiên Thu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=12240</guid>
		<description><![CDATA[Các cuộc tấn công của Tin lành nhắm vào Giáo hội Công giáo thường tập... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2013/04/06/thanh-the/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;"><a href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2013/04/minh-mau-thanh.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-12241" alt="minh-mau-thanh" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2013/04/minh-mau-thanh.jpg" width="250" height="284" /></a>Các cuộc tấn công của Tin lành nhắm vào Giáo hội Công giáo thường tập trung vào Bí tích Thánh Thể. Điều này chứng tỏ rằng các đối thủ của Giáo hội Công giáo – chủ yếu là phái Tân giáo (Evangelical) và phái Tin lành chính thống (Fundamentalist) – nhận thấy một trong các giáo lý chủ yếu của Công giáo. Vả lại, các cuộc tấn công cho thấy rằng phái Fundamentalist không luôn luôn là những người giải thích Kinh thánh theo nghĩa đen (literalists). Điều này có trong bản dịch của đoạn Kinh thánh chính, chương 6, Tin Mừng theo Thánh Gioan, trong đó Chúa Giêsu nói về bí tích sẽ được thiết lập trong Bữa Tiệc Ly, khảo sát nửa cuối của chương này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Ga 6:30 bắt đầu một cuộc đàm đạo xảy ra tại hội đường Capernaum. Người Do Thái hỏi Chúa Giêsu về dấu hiệu có thể thấy để tin Ngài. Như một thách thức, họ nói: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết”. Chúa Giêsu nói với họ rằng bánh thật từ trời đến từ Chúa Cha. Họ nói: “Xin cho chúng tôi bánh đó”. Chúa Giêsu trả lời: “Tôi là bánh hằng sống, ai đến với Tôi sẽ không bao giờ đói, và ai tin Tôi sẽ không bao giờ khát”. Về điểm này, người Do Thái hiểu Ngài nói ẩn dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Lặp đi lặp lại</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Trước tiên Chúa Giêsu lặp lại điều Ngài đã nói, rồi tóm lại: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6:51–52).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Những người lắng nghe Ngài sửng sốt vì họ hiểu Chúa Giêsu theo nghĩa đen – và đúng. Ngài lặp lại các chữ đó, nhưng với mức nhấn mạnh hơn, và giới thiệu về việc uống Máu Ngài: “Đức Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6:53–56).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Không chấn chỉnh</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Lưu ý rằng Chúa Giêsu không cố gắng làm nhẹ những điều Ngài đã nói, cũng không sửa sai “những sự hiểu lầm”, vì chẳng có gì cả. Những người lắng nghe Chúa đều hiểu đúng về Ngài. Họ không nghĩ Ngài nói ẩn dụ. Nếu có, và nếu bị hiểu sai, sao lại không có chấn chỉnh?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Khi có sự hiểu lầm, Chúa Giêsu chỉ giải thích ý Ngài nói (x. Mt 16:52–12). Ở đây, khi có hiểu lầm nghiêm trọng, Chúa Giêsu không hề cố gắng sửa sai, mà Ngài chỉ lặp lại để nhấn mạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thậm chí ngay cả các môn đệ cũng chau mày: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6:60). Các môn đệ là những người đã từng thấy Sư Phụ làm nhiều điều kỳ diệu mà còn vậy đó. Ngài cảnh báo họ đừng nghĩ theo bản tính xác thịt, mà phải nghĩ theo tâm linh: “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống” (Ga 6:63; x. 1 Cr 2:12–14).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Ngài biết rõ một số người không tin. Khi khước từ Thánh Thể, Giuđa đã sa ngã (x. Ga 6:64). Thánh Gioan cho biết: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6:66).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Đây là hồ sơ duy nhất chúng ta có về những người theo Chúa Giêsu đã bỏ Ngài vì những lý do giáo lý. Nếu điều đó gây hiểu lầm, và nếu sai lầm trong việc dùng ẩn dụ theo nghĩa đen, tại sao Ngài không gọi họ lại và nói thẳng vấn đề? Cả những người Do Thái nghi ngờ Ngài và các môn đệ chấp nhận mọi thứ theo điểm này vẫn ở với Ngài, nhưng Ngài nói Ngài chỉ dùng dụ ngôn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Ngài không sửa sai những người chống đối. 12 lần Ngài nói Ngài là bánh từ trời xuống, 4 lần Ngài nói người ta “ăn Thịt Ngài và uống Máu Ngài”. Tin Mừng theo Thánh Gioan, chương 6, là lời hứa về những gì được thiết lập trong Bữa Tiệc Ly – và đó là lời hứa không thể minh nhiên hơn nữa. Đối với người Công giáo cũng vậy. Nhưng giáo phái Fundamentalist nói gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Chỉ là ẩn dụ hoặc văn hoa?</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Họ nói rằng trong Ga 6, Chúa Giêsu không nói về ẩm thực vật chất mà nói về ẩm thực tâm linh. Họ viện chứng Ga 6:35: “Đức Giêsu bảo họ: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với Tôi, không hề phải đói; ai tin vào Tôi, chẳng khát bao giờ!”. Họ cho rằng Chúa Giêsu là bánh, là thức uống. Như vậy, ăn thịt và uống máu chỉ là tin vào Đức Kitô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Nhưng có vấn đề trong cách hiểu đó. LM John A. O’Brien giải thích: “Câu nói ‘ăn thịt và uống máu’ được dùng theo nghĩa bóng trong những người Do Thái, cũng như trong người Ả Rập ngày nay, nghĩa là bắt một người phải chịu tổn thương nghiêm trọng, nhất là bằng cách vu khống hoặc kết án oan sai. Hiểu câu này theo nghĩa bóng sẽ khiến Chúa hứa sự sống vĩnh hằng đối với thủ phạm đã vu cáo Ngài và ghét Ngài, làm giảm cả đoạn văn tới mức vô nghĩa” (O’Brien, The Faith of Millions, 215).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Những người theo giáo phái Fundamentalist phê bình đoạn Ga 6 rằng người ta có thể chứng tỏ Đức Kitô nchỉ nói ẩn dụ bằng cách so sánh các câu như “Tôi là Cửa” (Ga 10:9), và “Tôi là Cây Nho thật” (Ga 15:1). Vấn đề là không có liên quan gì tới “Tôi là Bánh Hằng Sống” (Ga 6:35). “Tôi là Cửa” và “Tôi là cây nho thật” mang ý nghĩa ẩn dụ vì Đức Kitô như Cửa – chúng ta lên trời qua Ngài, và Ngài cũng như Cây Nho – chúng ta tiếp nhận “nhựa tâm linh” nhờ Ngài. Nhưng Chúa Giêsu trong Ga 6:35 còn vượt xa ngoài biểu tượng bằng cách nói: “Thịt Tôi thật là của ăn, Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:55). </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Ngài nói tiếp: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6:57). Trong tiếng Hy Lạp, động từ “ăn” (trogon) rất thẳng thừng và có nghĩa là “nhai” hoặc “gặm nhấm”. Đây không là ngôn ngữ ẩn dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Tranh luận</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Đối với giáo phái Fundamentalist, việc tranh luận Kinh thánh bị chụp mũ bằng cách phản đối Ga 6:63: “Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống”. Họ nói điều này có nghĩa là việc ăn thịt thật thì vô lý. Nhưng điều này có ý nghĩa không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Chúng ta có hiểu Đức Kitô đã yêu cầu các môn đệ ăn Thịt Ngài, rồi nói họ làm vậy là vu vơ? “Thịt không có lợi” nghĩa là gì? “Ăn thịt tôi, nhưng bạn sẽ thấy đó là lãng phí thời gian” – Ngài nói gì? Hầu như không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Sự thật là Thịt Chúa Giêsu có sẵn! Nếu không có sẵn, Con Thiên Chúa nhập thể là vô lý, sự chết và sự phục sinh của Ngài cũng vô ích. Thịt Chúa Giêsu đem lại lợi ích cho chúng ta hơn bất cứ thứ gì khác trên thế gian này. Nếu Thịt Ngài không đem lại lợi ích cho chúng ta, việc giáng sinh, tử nạn và phục sinh của Đức Kitô là vô ích, như Thánh Phaolô nói: “Lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong” (1 Cr 15:17b-18).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Trong Ga 6:63, “thịt không đem lại lợi ích” nói đến khuynh hướng của nhân loại nghĩ là chỉ dùng những gì theo lý lẽ của loài người sẽ cho họ hiểu hơn những gì Thiên Chúa nói với họ. Như vậy trong Ga 8:15–16, Chúa Giêsu nói về các đối thủ của Ngài: “Các ông xét đoán theo kiểu người phàm; phần tôi, tôi không xét đoán ai cả. Mà nếu tôi có xét đoán, thì sự xét đoán của tôi vẫn đúng sự thật, vì không phải chỉ có mình tôi, nhưng có tôi và Đấng đã sai tôi”. Phán đoán tự nhiên của con người, không được ơn Chúa giúp đỡ, là không đáng tin; nhưng phán đoán của Thiên Chúa luôn xác thực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Các tông đồ có hiểu “những lời Thầy đã nói với anh em là Thần Khí và Sự Sống” hay là một “uẩn khúc” (circumlocution) về tính biểu tượng? Không ai có thể hiểu nếu không đứng ở vị trí của giáo phái Fundamentalist và nghĩ điều đó cần thiết để tìm ra một cơ sở hợp lý (rationale), dù bị ép buộc thế nào, để ngăn chặn cách hiểu của Công giáo. Trong Ga 6:63, “nhục thể” không có ý nói đến xác thịt của Đức Kitô – bản văn làm rõ điều này – nhưng loài người lại có khuynh hướng nghĩ theo bản chất phàm tục tự nhiên. “Những lời Thầy đã nói với anh em là Thần Khí và Sự Sống” không có nghĩa là “Điều Thầy nói mang tính biểu tượng”. Chữ “thần khí” KHÔNG BAO GIỜ được dùng theo cách đó trong Kinh thánh. Câu này nghĩa là điều Đức Kitô nói sẽ chỉ hiểu được nhờ đức tin, bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần và sự thu hút của Chúa Cha (x. Ga 6:37, 44-45, 65).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Phaolô xác nhận</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Phaolô viết trong thư gởi giáo đoàn Corintô: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?” (1 Cr 10:16). Vậy khi chúng ta rước lễ, chúng ta thực sự tham dự vào Mình và Máu Đức Kitô, không chỉ ăn và uống biểu tượng của Mình và Máu Chúa. Thánh Phaolô đã xác định: “Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình” (1 Cr 11:27 &amp; 29). Trả lời về “mình và máu” của ai đó nghĩa là phạm trọng tội như tội giết thân nhân. Sao chỉ ăn bánh và uống rượu “bất xứng” là trọng tội? Phê bình của Thánh Phaolô tạo ý nghĩa nếu bánh và rượu thực sự trở thành Mình và Máu Đức Kitô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Các Kitô hữu đầu tiên nói gì?</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Những người chống Công giáo cũng cho rằng Giáo hội sơ khai đã coi chương này chỉ mang tính biểu tượng. Thật vậy sao? Chúng ta hãy xem một số Kitô hữu đầu tiên nghĩ gì, nhớ rằng chúng ta có thể biết nhiều về cách Kinh thánh được hiểu bằng cách xem xét các bản văn của các Kitô hữu thời sơ khai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Inhaxiô thành Antiôkia là môn đệ của tông đồ Gioan và đã viết thư cho người Smyrnaean vào khoảng năm 110 (trước Công nguyên), nói đến “những người có ý kiến không chính thống”, rằng “họ không lãnh nhận Thánh Thể và không cầu nguyện, vì họ không tin Thánh Thể là Mình Máu của Đấng cứu độ Giêsu Kitô, Thánh Thể Ngài đã chịu khổ nạn vì tội lỗi chúng ta, và Ngài đã phục sinh”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Bốn mươi năm sau, Thánh Justin Tử đạo viết: “Không như ẩm thực bình thường chúng ta tiếp nhận, mà vì Đức Giêsu Kitô đã nhập thể bở Lời Thiên Chúa và có cả máu và thịt để cứu độ chúng ta, như chúng ta được dạy, thực phẩm này đã trở thành Thánh Thể nhờ Lời Nguyện Thánh Thể, và sự thay đổi của máu thịt để nuôi dưỡng,… Đó là Mình và Máu của Chúa Giêsu nhập thể” (Lời Xin Lỗi Đầu Tiên 66:1–20).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Origen, trong một bài giảng khoảng năm 244 (trước Công nguyên), đã chứng thực niềm tin trong bài “Hiện Hữu Thật” (Real Presence): “Tôi muốn khuyên bạn bằng các ví dụ của tôn giáo. Người ta quen tham dự các mầu nhiệm thánh, vậy bạn hiểu thế nào rồi, khi bạn lãnh nhận Mình Máu Chúa, bạn phải cẩn trọng đừng để rơi một phần nhỏ nào của Thánh Thể. Bạn tự thấy mình có tội, và tin đúng như vậy, nếu khinh suất làm mất một chút Thánh Thể nào” (Bài Giảng về Xh 13:3).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Cyril thành Giêrusalem, trong một bài giảng giữa thập niên 300, nói: “Đừng coi bánh và rượu chỉ đơn giản như thế, vì đó là Mình Máu Đức Kitô, theo cách giải thích của Thầy Chí Thánh. Cho dù thế nào thì cũng hãy để đức tin xác nhận. Đừng phán đoán theo bản tính phàm tục, hãy tin tưởng bằng đức tin, đừng nghi ngờ Mình Máu Đức Kitô” (Diễn Văn Giáo Lý: Truyền Phép 4:22:9). Thật vậy, Giáo hội dạy: “Đây là mầu nhiệm đức tin”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Trong bài giảng hồi thế kỷ XV, Thánh Theodore thành Mopsuestia như muốn nói với giáo phái Evangelical và Fundamentalist ngày nay: “Khi [Đức Kitô] trao bánh, Ngài không nói ‘Đây là biểu tượng của Mình Thầy’ mà Ngài nói ‘Đây là Mình Thầy’. Cũng vậy, khi Ngài trao chén, Ngài không nói ‘Đây là biểu tượng của Máu Thầy’ mà Ngài nói ‘Đây là Mình Thầy’ vì Ngài muốn chúng ta liếp nhận Thánh Thể, sau khi nhận hồng ân và Thánh Thần, không theo bản tính tự nhiên, nhưng tiếp nhận chính Mình Máu Chúa” (Bài Giảng Giáo Lý 5:1).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Chứng cớ đồng nhất</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Người ta có thể cho rằng Giáo hội sơ khai đã hiểu Ga 6 theo nghĩa đen. Thật vậy, không có tài liệu nào từ những thế kỷ đầu nói đến các Kitô hữu nghi ngờ cách hiểu của Công giáo. Không có tài liệu nào được hiểu theo nghĩa đen bị phản đối và chỉ được chấp nhận theo ẩn dụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Tại sao giáo phái Fundamentalist và Evangelical phản đối cách hiểu thẳng thừng theo nghĩa đen về Ga 6? Đối với họ, các bí tích Công giáo là sai lầm vì họ hàm ý một thực tế tâm linh (ân sủng) được chuyển tải bằng vật chất. Đối với họ, điều này có vẻ là vi phạm kế hoạch của Thiên Chúa. Đối với nhiều người Tin Lành, vật chất không phải không được sử dụng, mà nên tránh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Bánh và rượu đã được thánh hóa để trở thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô Nhập Thể.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><strong><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">THÁNH THỂ</span></strong></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Thể là Nguồn Sống</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Cho mọi người mọi thời</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Ăn Thịt, uống Máu Chúa</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Sẽ được sống đời đời</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Thánh Thể thêm can đảm</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Cho những người nhát gan</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Thánh Thể tăng sức mạnh</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Cho người chịu gian nan</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Thể là vũ khí</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Để chống lại ba thù</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Thể thêm dũng khí</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Khi cần sức vượt qua</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Thánh Thể là hạnh phúc</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Cho người gặp đau buồn</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Thánh Thể là linh dược</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Cho người yếu phần hồn</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Thể là nước mát</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Giải khát lòng khô khan</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Thánh Thể là lương thực</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">No lòng dọc đường trần</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Chúa lập Phép Thánh Thể</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Để ở với con luôn</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Xin cảm tạ Đức Chúa</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">            Không bỏ con cô đơn</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Xin cho con yêu Chúa</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Hết trí và hồn này</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Con xin ở bên Chúa</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 150px;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;">Trong Vườn Dầu đêm nay</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times; color: #000000;"> </span></p>
<p><span style="color: #993300; font-size: medium; font-family: times new roman,times;"><strong>Trầm Thiên Thu</strong></span> (Chuyển ngữ từ c<em>atholic.com</em>)</p>
<p style="text-align: justify;">
<p> ___________________________________</p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2013/04/06/thanh-the/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (52 bài Phần I)</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2013/04/02/tim-hieu-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-52-bai-phan-i/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2013/04/02/tim-hieu-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-52-bai-phan-i/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 02 Apr 2013 08:16:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoctran</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[duc tin]]></category>
		<category><![CDATA[Hội Thánh]]></category>
		<category><![CDATA[phần 1]]></category>
		<category><![CDATA[sách giáo lý]]></category>
		<category><![CDATA[tuyên xưng]]></category>
		<category><![CDATA[ĐHY Christoph Schönborn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=12171</guid>
		<description><![CDATA[TÌM HIỂU SÁCH GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO Phần I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2013/04/02/tim-hieu-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-52-bai-phan-i/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: medium;"><span style="color: #0000ff;"><b>TÌM HI</b><b>Ể</b><b>U SÁCH GIÁO LÝ H</b><b>Ộ</b></span><b><span style="color: #0000ff;">I THÁNH CÔNG GIÁO</span><br />
<span style="color: #800000;">Ph</span></b><span style="color: #800000;"><b>ầ</b><b>n I: TUYÊN X</b><b>Ư</b><b>NG Đ</b><b>Ứ</b><b>C TIN</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 30px;"><span style="color: #993300; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-Mucluc"></a>M</b><b>Ụ</b><b>C L</b><b>Ụ</b><b>C</b></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 30px;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><span style="color: #ff6600;"><b><a href="#Giaoly-dannhap"><span style="color: #ff6600;">D<b>ẫ</b><b>n nh</b><b>ậ</b><b>p</b></span></a></b></span><b><br />
<span style="color: #000080;"><a href="#Giaoly-bai01"><span style="color: #000080;">Bài 1. Nh<b>ậ</b><b>n bi</b><b>ế</b><b>t Thiên Chúa – S</b><b>ự</b><b> s</b><b>ố</b><b>ng c</b><b>ủ</b><b>a con ng</b><b>ườ</b><b>i</b></span></a></span></b><span style="color: #000080;"><b><br />
<a href="#Giaoly-bai02"><span style="color: #000080;">Bài 2. Giáo lý Công giáo là gì?<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai03"><span style="color: #000080;">Bài 3. Tìm và g<b>ặ</b><b>p Thiên Chúa</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai04"><span style="color: #000080;">Bài 4. Thiên Chúa m<b>ạ</b><b>c kh</b><b>ả</b><b>i</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai05"><span style="color: #000080;">Bài 5. Thánh Kinh<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai06"><span style="color: #000080;">Bài 6. Gi<b>ả</b><b>i thích Thánh Kinh</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai07"><span style="color: #000080;">Bài 7. Đ<b>ứ</b><b>c tin – Con ng</b><b>ườ</b><b>i đáp L</b><b>ờ</b><b>i Thiên Chúa</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai08"><span style="color: #000080;">Bài 8. “ … Xin nhìn đ<b>ế</b><b>n Đ</b><b>ứ</b><b>c tin c</b><b>ủ</b><b>a H</b><b>ộ</b><b>i Thánh Chúa”</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai09"><span style="color: #000080;">Bài 9. Tôi tin vào Thiên Chúa<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai10"><span style="color: #000080;">Bài 10. Thiên Chúa Ba Ngôi<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai11"><span style="color: #000080;">Bài 11. <b>Thiên Chúa là Cha chúng ta</b> </span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai12"><span style="color: #000080;">Bài 12. Thiên Chúa là Đ<b>ấ</b><b>ng toàn năng</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai13"><span style="color: #000080;">Bài 13. Thiên Chúa t<b>ạ</b><b>o d</b><b>ự</b><b>ng</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai14"><span style="color: #000080;">Bài 14. S<b>ự</b><b> quan phòng c</b><b>ủ</b><b>a Thiên Chúa</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai15"><span style="color: #000080;">Bài 15. Các Thiên Th<b>ầ</b><b>n</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai16"><span style="color: #000080;">Bài 16. Tr<b>ờ</b><b>i và đ</b><b>ấ</b><b>t</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai17"><span style="color: #000080;">Bài 17. Con ng<b>ườ</b><b>i</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai18"><span style="color: #000080;">Bài 18. Xác và h<b>ồ</b><b>n</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai19"><span style="color: #000080;">Bài 19. Nam và n<b>ữ</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai20"><span style="color: #000080;">Bài 20. T<b>ộ</b><b>i t</b><b>ổ</b><b> tông</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai21"><span style="color: #000080;">Bài 21. S<b>ự</b><b> d</b><b>ữ</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai22"><span style="color: #000080;">Bài 22. Đ<b>ứ</b><b>c Giêsu Kitô</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai23"><span style="color: #000080;">Bài 23. Con Thiên Chúa<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai24"><span style="color: #000080;">Bài 24. Đ<b>ượ</b><b>c th</b><b>ụ</b><b> thai b</b><b>ở</b><b>i quy</b><b>ề</b><b>n năng Chúa Thánh Th</b><b>ầ</b><b>n</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai25"><span style="color: #000080;">Bài 25. Thiên Chúa th<b>ậ</b><b>t và ng</b><b>ườ</b><b>i th</b><b>ậ</b><b>t</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai26"><span style="color: #000080;">Bài 26. Cu<b>ộ</b><b>c đ</b><b>ờ</b><b>i Chúa Giêsu</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai27"><span style="color: #000080;">Bài 27. Chúa Giêsu và dân Israel<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai28"><span style="color: #000080;">Bài 28. Đ<b>ứ</b><b>c Kitô ch</b><b>ế</b><b>t vì chúng ta</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai29"><span style="color: #000080;">Bài 29. Ng<b>ườ</b><b>i đã s</b><b>ố</b><b>ng l</b><b>ạ</b><b>i</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai30"><span style="color: #000080;">Bài 30. Ng<b>ườ</b><b>i l</b><b>ạ</b><b>i đ</b><b>ế</b><b>n trong vinh quang</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai31"><span style="color: #000080;">Bài 31. Tôi tin kính Chúa Thánh Th<b>ầ</b><b>n</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai32"><span style="color: #000080;">Bài 32. Tôi tin H<b>ộ</b><b>i Thánh</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai33"><span style="color: #000080;">Bài 33. H<b>ộ</b><b>i Thánh đ</b><b>ượ</b><b>c b</b><b>ắ</b><b>t đ</b><b>ầ</b><b>u nh</b><b>ư</b><b> th</b><b>ế</b><b> nào?</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai34"><span style="color: #000080;">Bài 34. Dân Thiên Chúa<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai35"><span style="color: #000080;">Bài 35. H<b>ộ</b><b>i Thánh là thân th</b><b>ể</b><b> Đ</b><b>ứ</b><b>c Kitô</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai36"><span style="color: #000080;">Bài 36. H<b>ộ</b><b>i Thánh duy nh</b><b>ấ</b><b>t</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai37"><span style="color: #000080;">Bài 37. H<b>ộ</b><b>i Thánh thánh thi</b><b>ệ</b><b>n</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai38"><span style="color: #000080;">Bài 38. H<b>ộ</b><b>i Thánh Công Giáo</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai39"><span style="color: #000080;">Bài 39. H<b>ộ</b><b>i Thánh Tông Truy</b><b>ề</b><b>n</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai40"><span style="color: #000080;">Bài 40. Ph<b></b><b></b><b>ẩ</b><b>m tr</b><b>ậ</b><b>t c</b><b>ủ</b><b>a Giáo H</b><b>ộ</b><b>i</b></span></a></b></span><b><br />
<a href="#Giaoly-bai41"><span style="color: #000080;">Bài 41. Giáo dân trong Giáo Hội</span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai42"><span style="color: #000080;">Bài 42. Đ<b>ờ</b><b>i s</b><b>ố</b><b>ng thánh hi</b><b>ế</b><b>n</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai43"><span style="color: #000080;">Bài 43. S<b>ự</b><b> hi</b><b>ệ</b><b>p thông c</b><b>ủ</b><b>a các Thánh</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai44"><span style="color: #000080;">Bài 44. Đ<b>ứ</b><b>c Maria – M</b><b>ẹ</b><b> H</b><b>ộ</b><b>i Thánh</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai45"><span style="color: #000080;">Bài 45. S<b>ự</b><b> tha th</b><b>ứ</b><b> t</b><b>ộ</b><b>i</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai46"><span style="color: #000080;">Bài 46. S<b>ự</b><b> ph</b><b>ụ</b><b>c sinh k</b><b>ẻ</b><b> ch</b><b>ế</b><b>t</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai47"><span style="color: #000080;">Bài 4<b>7</b><b>. S</b><b>ự</b><b> ch</b><b>ế</b><b>t</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai48"><span style="color: #000080;">Bài 48. T<b></b><b>hiên Đàng</b></span></a></b></span><b><br />
<span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times;"><a href="#Giaoly-bai49"><span style="color: #000080;">Bài 49. Luy<b></b><b>ện ngục</b></span></a></span></b><span style="font-size: medium; font-family: times new roman,times;"><b><br />
<a href="#Giaoly-bai50"><span style="color: #000080;">Bài 50. H<b>ỏa ngục</b></span></a></b><b><br />
<a href="#Giaoly-bai51"><span style="color: #000080;">Bài 51. Phán xét chung<br />
</span></a><a href="#Giaoly-bai52"><span style="color: #000080;">Bài 52. Amen</span></a></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2013/04/sach_GL.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-12172" alt="sach_GL" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2013/04/sach_GL.jpg" width="500" height="681" /></a></b></span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #ff0000;">►DOWNLOAD</span> <span style="color: #0000ff;"><em><a class="downloadlink" href="http://www.lamhong.org/wp-content/plugins/download-monitor/download.php?id=120" title="Versionword downloaded 98 times" >Tìm hiểu sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (Phần I) (98)</a></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-dannhap"></a><span style="color: #ff6600;">D</span></b><span style="color: #ff6600;"><b>ẫ</b><b>n nh</b><b>ậ</b><b>p</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Loạt bài giáo lý này được gửi đến độc giả như một sự trợ giúp cho việc học hỏi sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG) dành cho cá nhân hoặc nhóm. Điều lưu ý là chúng ta phải có cái nhìn tổng thể của mỗi phần trong 4 phần chính của sách giáo lý: <i>Tuyên x</i><i>ư</i><i>ng Đ</i><i>ứ</i><i>c Tin – C</i><i>ử</i><i> hành các m</i><i>ầ</i><i>u nhi</i><i>ệ</i><i>m Kitô giáo – Đ</i><i>ờ</i><i>i s</i><i>ố</i><i>ng m</i><i>ớ</i><i>i trong Đ</i><i>ứ</i><i>c Kitô – Kinh nguy</i><i>ệ</i><i>n Kitô giáo</i>. Loạt bài tìm hiểu này cố gắng đưa ra những yếu tố quan trọng của phần I: Tuyên xưng Đức Tin. Đây chỉ là những gợi ý, nên đòi hỏi cá nhân hoặc nhóm phải tham chiếu trực tiếp sách giáo lý để làm sáng tỏ những nội dung được tìm hiểu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức tin là toàn thể bởi vì chỉ có một trái tim và một trung tâm: đó là Đức Giêsu Kitô – Con Thiên Chúa, do đó Đức Kitô phải là trung tâm của giáo lý. Mục đích của giáo lý là đưa người ta đi vào trong sự hiệp thông với Đức Kitô. Ngài là Đấng duy nhất có thể dẫn chúng ta đến với tình yêu của Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, làm cho chúng ta được chia sẻ đời sống của Ba Ngôi Chí Thánh (GLHTCG 426), bởi vì “trong Người cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết” (Cl 2,3). Trong một nghĩa nhất định, những yếu tố quan trọng của Đức Tin được khơi nguồn từ kho tàng trái tim Chúa Giêsu. Vì thế, trái tim cực thánh của Chúa Giêsu, bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta và để cứu độ chúng ta, được coi là dấu chỉ và biểu tượng đặc biệt của tình yêu, qua đó Đấng Cứu Chuộc thần linh hằng liên lỉ yêu mến Chúa Cha vĩnh cửu và yêu mến tất cả mọi người. (GLHTCG 478).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những trình bày tóm tắt và những suy nghĩ trong phần nội dung Đức Tin sẽ đạt được mục tiêu nếu nó dẫn người tín hữu đến chỗ muốn biết rõ hơn về Đấng mình đã tin và hiểu rõ hơn về điều Ngài đã mạc khải; về phần mỗi người, sự hiểu biết sâu xa hơn sẽ dẫn đến một đức tin lớn lao hơn, luôn thấm đậm tình yêu của trái tim Chúa Giêsu (GLHTCG 158, 2669).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai01"></a>Bài 1. NH</b><b>Ậ</b><b>N BI</b><b>Ế</b><b>T THIÊN CHÚA – S</b><b>Ự</b><b> S</b><b>Ố</b><b>NG C</b><b>Ủ</b><b>A CON NG</b><b>ƯỜ</b><b>I</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Lạy Cha … sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3). Những lời này được trích dẫn ngay trong phần mở đầu sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Biết Thiên Chúa chính là để được sống đời đời. Cái biết này là mục tiêu đời sống của chúng ta. Trong Thánh Kinh, mục tiêu đó còn được diễn tả như được “nhìn thấy Thiên Chúa” (số 1028).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Têrêsa Avila khi còn nhỏ đã nói rằng: “Tôi muốn được thấy Thiên Chúa” và thánh nhân giả định thêm là để thấy Chúa, tôi phải chết đi – “Con nóng lòng được nhìn thấy Chúa, nên con muốn chết” (số 1011). Trong Cựu Ước, Thiên Chúa nói với Mô-sê: “ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống” (Xh 33,20). Để thấy Thiên Chúa, để biết Thiên Chúa – có nghĩa là để được sống, nhưng sự sống đó không chỉ dừng lại ở trần gian này. Chính vì thế, cuộc sống của chúng ta hiện nay vẫn đang trên con đường hành hương và Thánh Gioan tông đồ đã nhận xét chính xác: “Không ai đã từng thấy Thiên Chúa” (Ga 1,18). Do vậy, cuộc sống trần thế này vẫn chưa phải là cuộc sống tràn đầy, viên mãn. Nó như bông hoa huệ ngoài đồng, như mây bay, chỉ một cơn gió thổi đủ làm nó biến đi, ngay cả khi sự sống đó kéo dài nhiều chục năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, chúng ta được tạo dựng để được sống đời đời, vận mạng của chúng ta là hướng đến một sự sống khác, một cuộc sống viên mãn. Một hạnh phúc tràn ngập không thể tưởng tượng được. Trong quyển <i>T</i><i>ự</i><i> Thú</i> (Confessio), thánh Augustino đã diễn tả về sự sống khác này như sau: “Khi con gắn bó hết mình với Chúa, con sẽ không bao giờ còn phải đau đớn và vất vả nữa, được tràn đầy Chúa, đời con sẽ trở nên sống động” (Confessio 10, 28, 39; GLHTCG 45). Chính vì hạnh phúc này mà chúng ta được tạo dựng, chính vì hạnh phúc này mà tâm hồn chúng ta luôn khắc khoải hướng về cho dến khi được ở bên Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong sách giáo lý trước đây, câu hỏi đầu tiên là:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hỏi: “Vì mục đích gì Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thưa: “Thiên Chúa tạo dựng nên chúng ta để biết Ngài, yêu mến Ngài và phục vụ Ngài, như vậy chúng ta đạt tới thiên đàng” (GLHTCG 1721).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một câu hỏi đáp đơn giản này giống như sợi dây an toàn đối với người leo núi để từng bước từng bước chinh phục đỉnh núi cao. Cần có điều gì đó người ta có thể thủ đắc khi hằng ngày con người thường xuyên đối diện với những điều không chắc chắn. Chẳng hạn, có những người không thực hành đời sống tôn giáo trong nhiều năm, ngay cả nhiều chục năm, thế rồi giữa những khủng hoảng sâu xa trong cuộc sống của họ, đột nhiên ký ức xuất hiện với những câu giáo lý được học khi còn bé thơ, những lời được học không phải bằng những suy tư sâu sắc nhưng bằng những câu hỏi thưa thuộc lòng dễ hiểu, dễ nhớ dẫn đưa người đó khám phá lại đâu là điều quan trọng trong cuộc sống con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nói cho cùng, giáo lý là “Con Đường”, con đường giúp nhân loại hướng về một cuộc sống hạnh phúc. Một sự trợ giúp cho cuộc sống, một dấu chỉ đường, một bản đồ hướng dẫn để chúng ta lên đường với một hướng đi chính xác. Đối với các Kitô hữu thời giáo hội sơ khai, đời sống Kitô hữu đơn giản là <i>Con Đ</i><i>ườ</i><i>ng</i> (CVTĐ 9,2-3; 19,9; 24,14). Không phải là con đường giữa nhiều con đường nhưng là “Con Đường” viết hoa, mà chính Thiên Chúa chỉ cho chúng ta. Đức Giêsu Kitô – Con Thiên Chúa &#8211; đã đi Con Đường vượt qua thế gian để về với Chúa Cha, để hướng dẫn chúng ta cách chính xác đi qua cuộc sống đời này, và cho phép chúng ta đạt được mục tiêu một cách chắc chắn. Trong những bài tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu về Con Đường này với tất cả niềm vui và vẻ rực sáng của nó, nhưng cũng có cả những khó khăn và đòi hỏi. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo sẽ phục vụ như một loại bản đồ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai02"></a><span style="color: #000080;">Bài 2. GIÁO LÝ CÔNG GIÁO LÀ GÌ?</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức hồng y Christoph Schönborn kể lại một kinh nghiệm: Đầu năm 1993, tại Ấn Độ, ngài được giới thiệu một cuốn sách được bán nhiều nhất lúc đó, có tựa đề: “<i>B</i><i>ố</i><i> </i><i>ơ</i><i>i, con có ph</i><i>ả</i><i>i là m</i><i>ộ</i><i>t ng</i><i>ườ</i><i>i </i><i>Ấ</i><i>n Giáo không?</i>” Câu hỏi này được thốt ra từ một đứa bé đã đặt ra cho bố nó và tiếp theo là nhiều câu hỏi khác nữa liên quan đến tôn giáo của họ, Ấn Độ giáo. Kết quả đã hình thành nên một quyển sách giáo lý cho người Ấn Giáo được trình bày trong một hình thức quen thuộc hỏi-thưa. Sự kiện như thế cho thấy dạng thức hỏi-thưa của sách giáo lý đã gây hứng thú và sự quan tâm cho rất nhiều người. Nói theo ngôn từ của Công đồng Vaticanô II, đó là cần nhận ra những dấu chỉ thời đại. Rất rõ ràng, trong một thế giới ngày càng thu nhỏ, trong đó các biên giới và khoảng cách được vượt qua bởi kỹ thuật tiên tiến và phương tiện truyền thông, không chỉ các Kitô hữu mới đi tìm kiếm sự hiểu biết sâu xa và rõ hơn về tôn giáo của họ, nhưng ngày càng có nhiều người đang đặt lại câu hỏi về cội nguồn của mình, về câu hỏi đâu là nền móng có thể hỗ trợ cho “căn nhà” là chính cuộc đời của mình được vững chắc. Câu hỏi về ý nghĩa, về mục đích cuộc đời có thể một lúc nào đó bị xao lãng nhưng không bao giờ bị xóa bỏ khỏi tâm thức con người. Thật là ý nghĩa, khi con người bắt đầu tìm lại những nền móng của niềm tin tôn giáo nơi họ, cũng là nền móng cho chính đời sống của riêng họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra, khi lần tìm về cội nguồn của Kitô giáo, từ “dạy giáo lý” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “lặp lại, dội lại” (echo). Một chân lý đức tin giới thiệu cho người nghe và được lặp lại cho đến khi thuộc, như thế hình thức hỏi-thưa đã hiện diện ngay từ những ngày đầu của Giáo hội. Chỉ đến sau này nó được đặt tên là sách giáo lý, nhưng cũng phục vụ cùng một mục đích như trước đây, đó là củng cố, đặt những nền móng của đức tin Kitô giáo. Những thời kỳ Hội Thánh được canh tân cũng là những thời kỳ mạnh về việc dạy giáo lý (GLHTCG số 8). Mặc dù không quyển sách nào có thể thay thế được sứ vụ sống động của đời sống chứng tá đức tin, nhưng sách vở là một sự trợ giúp cho đời sống sứ vụ. Sự hiệp thông cá vị với Đức Kitô và đời sống yêu thương phát xuất từ đức tin của một người chính là phương thế thuyết phục nhất của việc dạy giáo lý (số 427). Đức giáo hoàng Gioan Phaolô I, vốn là bậc thày dạy giáo lý, đã dâng tặng cho mẹ mình quyển sách ngài viết về việc dạy giáo lý, với đề tặng: “Để tưởng nhớ đến mẹ tôi, người giáo lý viên đầu tiên.” Đúng vậy, chính đời sống chứng tá của người mẹ công giáo trở thành những bài giáo lý đầu tiên cho vị giáo hoàng tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều đó không có ý nói rằng sách giáo lý là không cần thiết, vì để có thể chuyển giao đức tin, chúng ta phải quen thuộc với nội dung đức tin, và một bố cục đơn giản, rõ ràng về giáo lý đức tin là điều cần thiết cho nội dung ấy. Sách giáo lý có mục đích giúp hiểu biết đức tin cách sâu xa hơn, nhờ đó đức tin được trưởng thành, đâm rễ sâu hơn vào cuộc sống và chiếu tỏa trong đời sống chứng nhân (số 23).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tại Công đồng Vaticanô II, Chân phước Giáo Hoàng Gioan XXIII đã mời gọi các nghị phụ có trách nhiệm bảo vệ và trình bày kho tàng đức tin một cách hiệu quả để có thể đến được dễ dàng với tất cả các tín hữu và những ai thành tâm thiện chí trong thế giới hôm nay. Tại Thượng Hội đồng Giám mục thế giới năm 1985, câu hỏi được đặt ra: có nên biên soạn hay không một quyển sách về đức tin, một cuốn sách giáo lý cho toàn thể Hội Thánh, sách này sẽ cung cấp một nguồn hướng dẫn đáng tin cậy, một điểm nhấn định hướng trung tâm, nghĩa là một cuốn sách giáo lý của Hội Thánh Công Giáo (số 10). Và ngày 11.10.1992, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ra tự sắc “Kho Tàng Đức Tin” công bố sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Chọn ngày này để công bố, Chân phước Gioan Phaolô II muốn đánh dấu kỷ niệm 30 năm khai mạc Công đồng Vaticanô II. Ngài trình bày sách giáo lý này như một thủ bản tham chiếu cách trung thực và chắc chắn để dạy giáo lý công giáo, cách riêng để tham chiếu cho việc soạn các sách giáo lý của các giáo hội địa phương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách giáo lý mới này có thể phục vụ cho mục đích gì? Mục tiêu trước hết và quan trọng nhất chắc chắn là để đào sâu đức tin của mỗi người. Chúng ta chỉ có thể yêu điều chúng ta biết; yêu nhiều thì mong muốn được biết nhiều hơn, từ đó dẫn đến khao khát được thông truyền cho những người khác điều chúng ta yêu mến (số 429). Đức Kitô là trung tâm của việc dạy giáo lý; sự hiệp thông sống động với Đức Kitô là mục tiêu của tất cả các giáo lý viên (số 426). Đây là mục tiêu đầu tiên của sách giáo lý: nhận biết tình yêu của Chúa Kitô, tình yêu vượt quá mọi hiểu biết (Ep 3,19). Đó là lý do tại sao sách giáo lý bắt đầu với lời tuyên xưng đức tin &#8211; kinh Tin kính &#8211; nói đến Thiên Chúa là Cha, Người Con chí ái của Ngài Đức Giêsu Kitô, và Chúa Thánh Thần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo được sắp xếp thành 4 phần: Tuyên xưng đức tin; Cử hành mầu nhiệm Kitô giáo; Đời sống trong Đức Kitô; Kinh nguyện Kitô giáo. Toàn bộ nội dung của sách là trung thành với Thánh Truyền – Thánh Kinh – và Huấn Quyền; đồng thời kết hợp với di sản của các thánh tiến sĩ trong giáo hội, các giáo phụ, và các thánh. Với ánh sáng đức tin, sách giáo lý soi sáng những tình huống, vấn đề và những câu hỏi của con người hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai03"></a>Bài 3. TÌM VÀ G</b><b>Ặ</b><b>P THIÊN CHÚA</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một khẳng định đem đến sự ngạc nhiên cho nhiều người: “Hội Thánh dạy rằng chúng ta có thể nhận biết cách chắc chắn sự hiện hữu của Thiên Chúa nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí con người” (GLHTCG số 36). Lý trí của chúng ta có thể dẫn chúng ta tới sự nhận biết chắc chắn rằng Thiên Chúa hiện hữu. Nói cách khác, không qua mạc khải, chúng ta có thể biết “có Thiên Chúa” dựa vào khả năng của tri thức tự nhiên. Lời khẳng định này của Hội Thánh diễn tả sự tin tưởng rất lớn vào con người. Hội Thánh vẫn luôn bảo vệ phẩm giá và khả năng của lý trí mà Thiên Chúa ban cho con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trí tuệ của con người là một phép lạ vĩ đại! Làm sao không thể ngỡ ngàng khi một điều gì đó bỗng bất ngờ trở nên rõ ràng đối với chúng ta. Như Isaac Newton (1642-1727) khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn từ việc quan sát và ghi nhận trái táo rơi; như Archimedes (287-212 trước công nguyên) từ trong bồn tắm ngỡ ngàng la lên “Tìm ra rồi!” khởi đầu cho một khám phá quan trọng là ‘lực đẩy của nước’. Nhà bác học Einstein có một nhận xét đáng lưu ý: “Điều ngỡ ngàng không phải là chúng ta nhận biết thế giới bao la, nhưng điều ngỡ ngàng là chúng ta có khả năng để nhận biết nó”. Sự ngỡ ngàng như đứa bé với nhiều câu hỏi “tại sao” về một điều gì đó cho đến khi nó thỏa mãn. Xét về căn bản, một người trưởng thành cũng không có gì khác trong cuộc hành trình tìm kiếm. Nhưng điều còn ngỡ ngàng hơn nữa là chính sự kiện: chúng ta có khả năng nắm bắt thực tại, có thể thấu hiểu cơ cấu của vũ trụ và năng lực của các nguyên tố tạo thành, không phải trên cái nền hỗn mang, nhưng là trên những hình thái trật tự luôn mới mẻ lạ lùng (số 283). Nhà nghiên cứu càng đi sâu vào trong những lãnh vực khác nhau của thực tại lại càng ngỡ ngàng về trật tự tạo dựng (số 299).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta có thể nhận biết trật tự này bởi vì nó hiện hữu. Thế giới này không phải là một sự hỗn loạn mù lòa, nhưng là một vũ trụ, đó là một thực tại hài hòa, trật tự và xinh đẹp (số 32). Điều ngỡ ngàng là chúng ta không còn biết ngỡ ngàng nữa! Phải chăng chỉ là chuyện ngẫu nhiên khi vũ trụ bao la này lại chứa hành tinh nhỏ bé của chúng ta, đó là trái đất, và hành tinh này lại có những điều kiện thuận lợi để sự sống có thể hình thành ở đó? Và còn ngỡ ngàng hơn nữa khi chúng ta là những con người hiện hữu trên hành tinh này lại có khả năng nhận biết tất cả những điều đó và lấy làm ngạc nhiên? Bất cứ ai biết ngỡ ngàng trước những điều lạ lùng trong vũ trụ đều phải thốt lên như tác giả thánh vịnh: “Lạy Đức Chúa là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu” (Tv 8,10).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Các triết gia đã định nghĩa: Bỡ ngỡ là khởi nguồn cho triết học. Thánh Kinh đi xa hơn khi nói rằng: Kính sợ Thiên Chúa là nguồn gốc của khôn ngoan và “chỉ có kẻ ngu si tự nhủ: không có Thiên Chúa (Tv 14,1). Thánh Tôma Aquinô diễn giải: Thiên Chúa là thực tại đáng nhận biết nhất bởi vì không có gì rõ ràng, rực rỡ và chân thật hơn chính Thiên Chúa. Do đó, không có sự nhận biết nào thỏa mãn nỗi khao khát của chúng ta cho bằng được nhận biết Thiên Chúa (số 1718). Thấy và nhận biết Thiên Chúa chính là hạnh phúc trọn vẹn: thiên đàng (số 1024).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng tại sao sự nhận biết Thiên Chúa nơi chúng ta thường xuyên bị che mờ và vẩn đục như thể Thiên Chúa là một ý tưởng không có thật? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Lý trí của chúng ta vốn yếu kém, chúng ta mải bận tâm với những gì trực tiếp trước mắt chúng ta, chúng ta bám víu vào bề mặt để nhận thức về sự vật. Tuy nhiên, nguyên nhân lớn nhất là chúng ta bị què quặt bởi sự “hôn mê tri thức” đến từ tội nguyên tổ, khiến chúng ta lẩn tránh những nỗ lực và hy sinh liên quan đến việc tìm kiếm chân lý (số 37). Để nhận biết Thiên chúa, chúng ta phải tìm Ngài, điều này đòi hỏi một ý chí với tất cả sức mạnh của chúng ta (như Giacóp trong cuộc vật lộn với Thiên Chúa – St 32) nhưng điều này lại thiếu nơi chúng ta. Chắc chắn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta lý trí và ý chí để nhờ đó chúng ta tìm kiếm và gặp được Thiên Chúa. Nhưng về phần chúng ta, chúng ta vẫn còn “ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần” (Lc 1,79). Vì thế, chính Thiên Chúa cung cấp cho ta một phương thế mới hoàn toàn: qua mạc khải của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai04"></a><span style="color: #000080;">Bài 4. THIÊN CHÚA M</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ạ</b><b>C KH</b><b>Ả</b><b>I</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mỗi người có khả năng tìm kiếm và gặp được Thiên Chúa, Ngài không xa lạ với mỗi người chúng ta” vì “trong Ngài chúng ta sống, cử động và hiện hữu” như Thánh Phaolô nói với người dân thành Athêna – Hy Lạp (Cv 17,28). Tuy nhiên, như đã trình bày ở bài “Tìm và gặp Thiên Chúa”, vì chúng ta sử dụng lý trí cách lệch lạc và vì sự yếu đuối của ý chí nơi mỗi chúng ta, nên việc tìm kiếm này vẫn còn là dò dẫm, thường xuyên đi lạc và dẫn đến những thần tượng giả. Do đó Thiên Chúa đã chọn một cách khác. Chính Thiên Chúa đi tìm con người, tìm kiếm con người như người mục tử trong dụ ngôn con chiên lạc. Thiên Chúa đến với con người, làm cho Ngài được biết đến. Thiên Chúa mạc khải chính Ngài cho chúng ta (GLHTCG số 50).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức tin Kitô giáo dựa vào mạc khải: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1Cr 2,9). Mạc khải trước hết có nghĩa là Thiên Chúa làm cho Ngài được nhận biết, kế đó thông ban chính Ngài cho chúng ta. Hai khía cạnh này gắn bó chặt chẽ với nhau. Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm thánh ý của Ngài; nhờ mầu nhiệm đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô – Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (số 51).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thiên Chúa mạc khải chính Ngài một cách tiệm tiến, qua từng giai đoạn (số 53). Mặc dù Thiên Chúa đã thông ban cho con người tất cả những bằng chứng về sự hiện diện của Ngài qua tạo dựng (số 54), nhưng lịch sử mạc khải của Thiên Chúa bắt đầu với ơn gọi của Abraham. Thiên Chúa đã thực hiện một giao ước với ông, người sẽ trở thành cha của những người tin. Abraham sẽ là tổ phụ của dân Israel, Thiên Chúa đã trao cho ông một lời hứa (số 59). Thiên Chúa đã chọn một người từ nhiều người, chọn một dân tộc giữa nhiều dân tộc để mạc khải mầu nhiệm ý muốn của Ngài. Giữa lòng nhân loại, dân được tuyển chọn này có nhiệm vụ đón nhận mạc khải của Thiên Chúa. Qua họ, mọi dân tộc được chúc lành và nhận biết Thiên Chúa (số 62).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Qua dòng lịch sử dân Chúa, Thiên Chúa thực hiện cuộc chọn lựa đặc biệt khác. Trong số dân Israel, Thiên Chúa chọn một người để qua người đó mạc khải quyết định vĩnh cửu của Ngài, “mầu nhiệm ý muốn của Thiên Chúa”, người đó là Đức Trinh Nữ Maria (số 488). Qua người trinh nữ này cùng với lời xin vâng, Thiên Chúa sẽ hoàn tất mạc khải – qua Đức Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mạc khải đến với chúng ta trọn vẹn chỉ qua Đức Giêsu. Ngài là Con Thiên Chúa, Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa. Nơi LỜI này, Thiên Chúa nói với chúng ta tất cả những gì Ngài muốn nói. Đức Giêsu Kitô là sự viên mãn của tất cả mạc khải (số 65). Mạc khải bao gồm không chỉ là lời và hành động, nhưng là một Ngôi vị &#8211; Đức Giêsu Kitô. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa không chỉ thông truyền điều gì đó về chính Ngài và mầu nhiệm của Ngài nhưng thông ban chính Ngài cho chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đó là lý do tại sao Công đồng Vaticanô II nói: Mạc khải đã được hoàn tất với Đức Kitô, và không còn cần chờ đợi một mạc khải công nào mới trước khi Đức Giêsu Kitô – Chúa chúng ta – tỏ lộ trong vinh quang (số 66). Chúng ta sẽ không bao giờ múc cạn sự phong phú nơi Đức Kitô, Ngài sẽ không bao giờ bị vượt qua. Những điều được gọi là “mạc khải tư” giả định rằng không bao giờ nó đem đến điều gì mới mà lại không có sẵn trong mạc khải của Đức Kitô (số 67). Tuy nhiên, mạc khải tư có thể đóng góp là khơi gợi đức tin của chúng ta vào Đức Kitô, nhóm lên tình yêu của chúng ta đối với Đức Kitô như trong trường hợp Thánh Tâm Chúa Giêsu mạc khải cho thánh nữ Magarita Maria Alacoque.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai05"></a><span style="color: #000080;">Bài 5. THÁNH KINH</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đôi khi chúng ta nghe có người nhận xét: Kitô giáo là “tôn giáo của Sách Thánh”, giống như Do Thái giáo và Hồi giáo, đó là vì 3 tôn giáo này đều chia sẻ cùng một yếu tố được đặt nền trên Sách Thánh được Thiên Chúa linh hứng: Thánh Kinh Cựu Ước đối với Do Thái giáo, Thánh Kinh Cựu và Tân Ước đối với Kitô giáo, và kinh Koran đối với Hồi giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, yếu tố này nơi Kitô giáo không chính xác theo nghĩa chặt. Đức tin Kitô giáo không trực tiếp hướng về một cuốn sách; nó không đặt nền trên bất cứ lời nào được viết ra nhưng trên Ngôi Lời hằng sống của Thiên Chúa. Trung tâm đức tin của chúng ta là một Ngôi Vị của Lời vĩnh cửu, Con Thiên Chúa, Lời đã nhập thể làm người vì chúng ta (GLHTCG số 108). Trong Ngài, Thiên Chúa nói với chúng ta mọi điều và trao cho chúng ta mọi thứ. Đức Giêsu Kitô là cuốn sách sống động của chúng ta, Ngài là Lời của Thiên Chúa đối với con người (số 102).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên Thiên Chúa đã mạc khải Lời này cách tiệm tiến. Ngài muốn hạ cố trước sự yếu đuối của chúng ta. Do vậy, Ngài đã cúi xuống với chúng ta như người cha cúi xuống đối với con cái họ. Thiên Chúa đã thích nghi Lời của Ngài đối với những năng lực hiểu biết của chúng ta. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa nói với dân Ngài qua những người được Thiên Chúa tuyển chọn; và nhiều điều Thiên Chúa đã làm cho dân của Ngài cũng như những lời Ngài nói với họ qua các ngôn sứ, dần dần được ghi lại trong những quyển sách khác nhau làm nên Thánh Kinh Cựu ước ngày hôm nay (số 122).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cuối cùng Thiên Chúa nói với chúng ta qua Người con duy nhất của Ngài. Đó là lý do tại sao những lời và những hành động của Chúa Giêsu rất quan trọng đối với chúng ta. Những lời và hành động đó được diễn tả qua ngôn ngữ của con người. Những hành động Chúa Giêsu làm và những lời Chúa Giêsu rao giảng được các môn đệ của Ngài chuyển giao một cách trung thành và tin cậy bởi vì các môn đệ muốn dẫn nhiều người đến với Chúa Giêsu, người thầy yêu quý của họ. Đấng đã quy tụ họ lại chung quanh và đã chia sẻ sự sống của Ngài với họ. Trước hết là qua lời truyền khẩu, các môn đệ đã truyền thông về những gì họ đã biết về Đức Giêsu và điều Ngài đã dạy họ. Nhưng không lâu sau, họ đã ghi lại rất nhiều điều trong những lời truyền khẩu này. Như vậy các sách Tin Mừng dần dần hình thành (số 126).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi chúng ta xem xét những gì vừa được đề cập, rõ ràng là các môn đệ và những người bạn đồng hành với họ đã thông truyền những điều đáng tin cậy trên bình diện lịch sử về Chúa Giêsu trong các sách Tin Mừng. Hình ảnh rõ ràng về Chúa như họ nhận biết hiện ra quá lớn lao trước mặt họ. Ấn tượng mà những lời nói và hành động của Chúa Giêsu để lại quá mạnh mẽ, đến nỗi không thể nghĩ rằng họ đã tìm cách thích ứng hình ảnh họ có về Chúa Giêsu cho phù hợp với “tinh thần thời đại”. Do đó, tại Công đồng Vaticanô II, Hội Thánh không do dự khẳng định tính lịch sử của các sách Tin Mừng (MK 19).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hơn nữa, tính đáng tin của Thánh Kinh không chỉ dựa vào sự khả tín của các chứng nhân mà thôi, nhưng còn dựa vào công trình của Chúa Thánh Thần như Công đồng dạy: “Thật vậy, Hội Thánh, Mẹ thánh chúng ta, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ các sách Cựu Ước, cũng như Tân Ước với tất cả các phần đoạn đều là sách thánh và được ghi vào bản thư quy Thánh Kinh: bởi lẽ được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, các sách ấy có tác giả là chính Thiên Chúa và được truyền lại cho chính Hội Thánh với tư cách đó” (số 105). Thánh Kinh được cử hành chính thức trong phụng vụ như là Lời của Thiên Chúa hằng sống (số 103). Thánh Kinh chính là Lời của Thiên Chúa được diễn tả trong ngôn ngữ của con người (số 101).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai06"></a><span style="color: #000080;">Bài 6. GI</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ả</b><b>I THÍCH THÁNH KINH</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa nói với con người theo cách thức loài người. Vì vậy, để giải thích Thánh Kinh cho đúng, phải cẩn thận tìm hiểu điều các tác giả nhân loại thật sự có ý khẳng định và điều Thiên Chúa muốn tỏ bày cho chúng ta qua lời lẽ của các ngài” (GLHTCG số 109).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Công đồng Vaticanô II đưa ra nguyên tắc sau đây đối với tất cả việc giải thích Thánh Kinh: “Thánh Kinh phải được đọc và giải thích trong ánh sáng cùng một Chúa Thánh Thần, vì Thánh Kinh được viết ra bởi Chúa Thánh Thần” (số 111). Để hiểu Thánh Kinh cho đúng, phải đọc như Thánh Thần đã linh hứng, có nghĩa là phải được đọc trong đức tin, cũng như là gia tăng đức tin và là chứng tá cho đức tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều này đòi hỏi trước hết cần chú ý đến điều được gọi là nghĩa “văn tự” của Thánh Kinh, là nghĩa mà tác giả các bản văn Thánh Kinh muốn diễn tả. Thánh Têrêsa Lisieux ước muốn được học tiếng Hy Lạp và tiếng Do Thái để có thể hiểu cho đúng điều Thánh Kinh trình bày. Thêm vào đó, cách đọc so sánh với những bản dịch khác cũng hữu ích vì giúp chúng ta cảm nhận rõ hơn về chủ ý mà tác giả muốn diễn đạt. Thêm vào đó, sự hiểu biết rõ về lịch sử của một thời đại nhất định – đặc biệt lịch sử dân Do Thái, môi trường sống của dân tộc này, phong tục và điều kiện xã hội của họ – sẽ đóng góp rất nhiều cho việc hiểu rõ hơn bản văn Thánh Kinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cần chú ý đến sự khác biệt của các “thể loại văn chương” được các tác giả sử dụng trong môi trường văn hóa thời các ngài, “vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau: như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác” (số 110).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chú giải có tính học thuật đóng một vai trò không thể thay thế để hiểu đúng bản văn Thánh Kinh. Chúng ta nhận ra rằng một khi ý nghĩa lịch sử và thể loại văn chương của các bản văn Thánh Kinh được biết rõ hơn, điều đó sẽ giúp cho chúng ta đạt được ánh sáng mới và ý nghĩa tôn giáo sẽ nổi bật hơn. Nhưng đọc bản văn Thánh Kinh thuần túy dựa trên phân tích lịch sử và ngôn ngữ thì không đủ. Chú giải mang tính chuyên môn và đức tin phải đi chung với nhau nếu muốn nắm bắt chứng từ tôn giáo của Thánh Kinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vì vậy, Công đồng đưa ra 3 tiêu chuẩn để giải thích bản văn Thánh Kinh:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1/ Phải chú ý đến “nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh”. Thánh Kinh là một tổng thể duy nhất, tất cả các phần được gắn kết với nhau, thí dụ: người ta không thể cô lập một sách Tin Mừng hoặc một đoạn Thánh Kinh khỏi toàn bộ Kinh Thánh. Thánh Kinh chỉ là một, bởi kế hoạch của Thiên Chúa chỉ có một và Đức Giêsu Kitô là trung tâm và trái tim của kế hoạch ấy. Một trái tim đã rộng mở sau cuộc vượt qua của Người. (số 112).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">2/ Phải đọc Thánh Kinh trong Thánh Truyền sống động của Hội Thánh. Chúng ta không phải là những người đầu tiên đọc Sách Thánh. Các bậc thầy như thánh Augustinô, Tôma Aquinô, Newman, đã đọc Sách Thánh như thế nào? Trong suốt chiều dài kinh nghiệm tôn giáo của Hội Thánh, Sách Thánh đã được hiểu ra sao? Theo châm ngôn của các Giáo phụ, Thánh Kinh được viết chủ yếu trên trái tim của Hội Thánh hơn là trên những vật liệu thể chất. Thật vậy, Hội Thánh lưu giữ ký ức sống động về Lời Thiên Chúa trong Thánh Truyền của mình, và Chúa Thánh Thần ban cho Hội Thánh khả năng giải thích Thánh Kinh theo cách thiêng liêng (số 113).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">3/ Phải chú ý đến tính tương hợp của đức tin. Có nghĩa là sự liên hệ hài hòa giữa các chân lý đức tin với nhau và trong toàn bộ chương trình mạc khải (số 114). Đời sống của các thánh cung cấp việc giải thích Thánh Kinh sống động và cụ thể nhất. Ví dụ, cuộc đời thánh Phanxicô Assisi là một chú giải sống động về các sách Tin Mừng; các phép lạ trong các sách Tin Mừng được âm vang thành nhiều ngàn lần qua các phép lạ của các thánh. Hoặc bất cứ ai suy nghĩ về cuộc đời của Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II hay Chân phước Têrêsa Calcutta cũng sẽ học được cách đọc Tin Mừng trong cùng một Thánh Thần mà Tin Mừng được viết ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai07"></a><span style="color: #000080;">Bài 7. Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ứ</b><b>C TIN – CON NG</b><b>ƯỜ</b><b>I ĐÁP L</b><b>Ờ</b><b>I THIÊN CHÚA</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Trước khi chúng ta hiện hữu, Ngài đã chọn chúng ta đi vào trong cuộc đời này để sống, để biết và yêu mến Ngài. Trước khi chúng ta nhận biết Thiên Chúa, Ngài đã tỏ lộ chính Ngài để chúng ta nhận biết. Trước khi chúng ta đáp lời Thiên Chúa, Ngài đã gọi chúng ta. Ngài đã tiến đến với chúng ta và lên tiếng gọi. Đáp lại cách xứng hợp lời mời gọi ấy chính là đức tin (GLHTCG số 142).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức tin phải được thực hiện với sự vâng phục, nghĩa là vừa phải lắng nghe vừa đi vào trong tương quan với Thiên Chúa, Đấng nói với chúng ta. Abraham là mẫu gương cho sự vâng phục của đức tin (số 145). Thiên Chúa gọi Abraham và ông đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp. Thánh Kinh ghi lại ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu nhưng ông biết chắc ông gắn bó cuộc đời với Ai (Do Thái 11,8). Đó là đức tin. Sự vĩ đại của thái độ này chính là sự tin tưởng không điều kiện vào Đấng mà Abraham vâng phục cách chân thành. Như Abraham và ngay cả còn hơn ông nữa, Đức Trinh nữ Maria đã tin vào Thiên Chúa. Đức Maria đã tin tưởng hoàn toàn rằng không có gì mà Thiên Chúa không làm được (Lc 1,37). Đức Maria đã trao trọn vẹn cuộc đời mình cho thánh ý của Thiên Chúa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (số 148).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bằng đức tin, con người đem trí khôn và ý chí của mình quy phục Thiên Chúa cách trọn vẹn (số 143), sự quy phục này diễn tả sự tôn thờ và làm vinh danh Thiên Chúa. Bất cứ ai tin Thiên Chúa cũng nhìn nhận sự vĩ đại, quyền năng vô hạn và tình yêu của Thiên Chúa, và quy phục Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu gặp những ai có niềm tin hoàn toàn và trọn vẹn vào Người, Người đầy niềm vui. Một người có niềm tin thực sự vào Thiên Chúa là một người vĩ đại vì người đó tin rằng Thiên Chúa có thể làm mọi sự vĩ đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Con người chỉ có thể dành sự quy phục trọn vẹn tín thác này cho một mình Thiên Chúa mà thôi (số 150). Cho nên đức tin Kitô giáo khác với việc tin vào một người phàm, bởi vì không có ai, ngay cả những người được quý trọng nhất, có thể đòi hỏi sự gắn bó của chúng ta với người đó một cách tuyệt đối như tin vào Thiên Chúa. Ngược lại, chúng ta cũng thật hoang tưởng nếu mình đòi hỏi bất cứ ai sống trong cuộc đời này có thể thỏa mãn khát vọng sâu xa nhất của mình như chúng ta cậy trông vào Thiên Chúa. Kể cả với Hội Thánh cũng vậy. Sách Giáo Lý Hội Thánh công Giáo trình bày: “Trong tín biểu của các tông đồ, chúng ta tuyên xưng ‘chúng ta tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền (tin có Hội Thánh) chứ không phải ‘tin kính’ Hội Thánh”, để chúng ta không lẫn lộn Thiên Chúa với các công trình của Ngài, và để chúng ta quy một cách rõ ràng về lòng nhân hậu của Thiên Chúa tất cả mọi hồng ân mà Ngài đã ban cho Hội Thánh của Ngài (duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền) (số750).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta không tin vào một ai đó nhưng là tin vào Thiên Chúa, là Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần (số 178). Tuy nhiên, tin kính Thiên Chúa như thế cũng là chấp thuận trong đức tin những điều Thiên Chúa đã mạc khải và ban cho chúng ta. Ở tự nó, có thể tin như thế đã là một hồng ân, nên chúng ta nói rằng đức tin là một quà tặng. Đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa, là một nhân đức siêu nhiên do Thiên Chúa ban (số 153). Là một quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, tuy nhiên chúng ta cũng mang trách nhiệm, cũng như một khả năng chúng ta có, cần phải được sử dụng mới sinh ích lợi. Cũng vậy đức tin của chúng ta phải lớn lên, trưởng thành và sinh hoa trái. Đức tin sẽ bị “mục nát” nếu cuộc sống chúng ta không thực sự được sống từ bên trong tâm hồn; đức tin sẽ bị héo khô nếu không thường xuyên được trợ giúp bằng cầu nguyện. Đức tin sẽ đạt được sức mạnh qua những thử thách; bám rễ sâu qua những kiên nhẫn và trung thành làm những điều thiện hảo; qua tình yêu đức tin chín mọng, qua hy vọng đức tin trở nên kiên định, ngay cả trong những thời khắc tăm tối và đau khổ (số 162).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức tin còn hơn là một kinh nghiệm. Thường xuyên có những giai đoạn chúng ta đi như người đi trong khu rừng rậm, thỉnh thoảng đón nhận ánh sáng từ những tia chớp chợt lóe sáng trên bầu trời. Điều này không phải là trở ngại đối với đức tin, nhưng sẽ làm cho đức tin thêm vững mạnh hơn. Tôi tin vì uy quyền của chính Thiên Chúa, Đấng mạc khải, Đấng không thể sai lầm, cũng như không thể lừa dối chúng ta (số 156). Các thánh là những người thường xuyên sống “đêm tăm tối” trong đó tất cả những kinh nghiệm biến mất và chỉ còn lại đức tin (số 164). Chính khi đó, tình yêu không điều kiện của Thiên Chúa được tỏ lộ đối với những ai kiên trì một cách trung thành trong niềm tin vào Thiên Chúa, ngay trong những giai đoạn gặp khô khan và tăm tối. Thiên Chúa không rút lại phần thưởng của Ngài cho sự trung thành như vậy: chính Ngài sẽ là phần thưởng (số 2011).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai08"></a><span style="color: #000080;">Bài 8. “ … XIN NHÌN Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ế</b><b>N Đ</b><b>Ứ</b><b>C TIN C</b><b>Ủ</b><b>A H</b><b>Ộ</b><b>I THÁNH CHÚA”</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong phụng vụ thánh lễ, sau kinh Lạy Cha, chúng ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa”. Lời cầu nguyện làm cho chúng ta ngạc nhiên: “Đức tin của Hội Thánh”. Chúng ta thường hiểu “đức tin của Hội Thánh” là cấu trúc giáo lý, toàn bộ những điều Hội Thánh dạy. Tuy nhiên, ở đây muốn diễn tả một điều gì khác: chính Hội Thánh được hiểu như là một người tin. Cũng giống như khi chúng ta phân biệt giữa hai cụm từ “tội của chúng ta” và “chúng ta là những tội nhân”. Hội Thánh này là ai mà chúng ta nài xin Chúa hãy nhìn vào đức tin của Hội Thánh?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta có thể đặt câu hỏi trong hình thức khác: khi chúng ta thực hiện lời tuyên xưng đức tin trong thánh lễ, tất cả chúng ta nói cùng lúc “tôi tin…” Ở đây mỗi người nói cho chính mình cách cá nhân, bởi vì tin là một hành động mang tính cá vị. Tuy nhiên, điều chúng ta diễn tả trong kinh Tin Kính không phải là những ý nghĩ cá nhân của tôi, nhưng là điều mà tất cả chúng ta chia sẻ trong đức tin. Chúng ta cũng có thể nói: “Chúng tôi tin…” như trong bản văn Hy Lạp về lời tuyên xưng đức tin trọng thể. Nhưng, chủ từ “chúng tôi” ở đây không đơn giản là tổng số những khái niệm niềm tin của mỗi người, thí dụ: một tổ chức nào đó đạt được sự đồng thuận dựa trên một số nguyên tắc chung của mỗi thành viên đưa ra và gọi là “những nguyên tắc” của chúng tôi. Trái lại, khi nói “chúng tôi tin” điều Hội Thánh tin, nghĩa là tin những điều mà Hội Thánh tiếp nhận từ nơi Chúa và là Thày – Đức Giêsu Kitô – chính vì vậy mà Hội Thánh gắn bó những điều tin một cách trung thành và quý trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vì thế, mệnh đề “tôi tin” trước hết quy chiếu về cái “Tôi” của Hội Thánh. Xét như một cá nhân, tôi chỉ có thể nối kết vào mệnh đề “tôi tin…” khi ở trong sự hiệp thông của Hội Thánh. Niềm tin của tôi được nâng đỡ bởi niềm tin của nhiều người, những người đã tin trước tôi và đã chuyển giao đức tin đó. Đức tin không phải là một hành vi đơn độc, không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình (số 166). Cũng vậy, tôi không làm ra sự sống của tôi nhưng tôi tiếp nhận sự sống; tôi cũng không phát minh ra đức tin nhưng tôi đón nhận. Tôi tiếp nhận đức tin từ Hội Thánh, cũng như tôi tiếp nhận sự sống từ cha mẹ tôi. Trong phụng vụ bí Tích Thánh Tẩy, chủ sự hỏi: “Anh (chị) xin gì cùng Hội Thánh Chúa?” Trả lời: “xin đức tin”; chủ sự hỏi tiếp: “Đức tin sinh ơn ích gì cho anh (chị)?” Trả lời: “đức tin đem lại sự sống đời đời” (số 168).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Không có một đức tin chung nếu không có một ngôn ngữ đức tin chung. Tuy chúng ta không tin vào các ‘công thức’, nhưng chúng ta diễn tả điều chúng ta tin qua những từ ngữ và những mệnh đề mà chúng ta chia sẻ chung với nhau, đó là điều cần thiết với chúng ta để nói về điều chúng ta tin. Do đó, cần phải có một ngôn ngữ đức tin chung, gắn kết chúng ta, cũng như sự ràng buộc của ngôn ngữ là điều cần thiết đối với xã hội loài người (số 170).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phụng vụ của Hội Thánh sẽ như thế nào nếu như không có một gia sản ngôn ngữ tôn giáo chung? Và đức tin có thể được loan báo và chuyển giao như thế nào được nếu như mỗi người chúng ta có một sân chơi ngôn ngữ riêng? Ngôn ngữ tôn giáo cũng là ký ức sống động của các thực tại tôn giáo. Điều cốt lõi qua ngôn ngữ tôn giáo là đưa về Đức Giêsu Kitô, Đấng nói với chúng ta qua lời của Ngài về Nước Thiên Chúa (số 543). Hội Thánh gìn giữ ký ức này. “Như người mẹ dạy con mình nói, hiểu, và thông truyền, Hội Thánh Mẹ chúng ta dạy chúng ta ngôn ngữ đức tin để giới thiệu cho chúng ta, để chúng ta hiểu và sống đức tin” (số 171).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai09"></a><span style="color: #000080;">Bài 9. TÔI TIN VÀO THIÊN CHÚA</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu bằng câu “Tôi tin kính Đức Chúa Trời”. Đó là nền tảng cho tất cả những gì theo sau và cách nào đó chứa đựng toàn bộ tín biểu (GLHTCG số 199). Tất cả những gì được nói đến trong kinh Tin Kính đều tùy thuộc niềm tin vào Thiên Chúa. Do đó, thư Do Thái viết: “Không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” (Dt 11,6).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Rudolf Bulmann, thần học gia Tin Lành, đưa ra một nhận xét: “Thiên Chúa là thực tại quyết định tất cả”. Nếu Thiên Chúa hiện hữu, thì chỉ có mình Ngài là Đấng duy nhất và là tất cả của chúng ta. Tất cả sự hiện hữu của chúng ta, tất cả những gì chúng ta có đều đến từ nơi Ngài và ở trong tay Ngài. Trái lại, điều mà nhân vật Ivan Karamazov trong tác phẩm <i>Anh em nhà Karamazov</i> của đại văn hào Nga Dostoyevsky diễn tả rất chính xác: “Nếu Thiên Chúa không hiện hữu, mọi cái đều được phép”; và chúng ta có thể thêm: “Mọi cái đều vô nghĩa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi còn nhỏ, Thánh Tôma Aquinô đã đặt câu hỏi: “Thiên Chúa là ai?” Suốt cuộc đời của thánh nhân, câu hỏi đó luôn xâm chiếm tâm trí ngài. Là một nhà thần học vĩ đại của Hội Thánh, ngài nói về Thiên Chúa, và đàng sau những ngôn từ sắc bén khi luận bàn về Thiên Chúa, Thánh Tôma luôn ý thức về một sự tôn kính sâu xa đối với Thiên Chúa. Trong Thánh Kinh, sự tôn kính như thế được gọi là “kính sợ Thiên Chúa” và được nhìn như khởi đầu cho sự khôn ngoan. Tôn kính trước sự vĩ đại và thánh thiện của Thiên Chúa là một phản ứng tự nhiên của những ai đối diện với mầu nhiệm của Thiên Chúa bằng trái tim rộng mở.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế nên Môsê đã bỏ dép ra và che mặt lại khi ông nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong bụi gai bốc cháy. Isaia cũng có thái độ tương tự khi Thiên Chúa gọi ông làm ngôn sứ. Trước sự vĩ đại uy nghi của Thiên Chúa, Isaia đã thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6,5). Thánh Phêrô cũng vậy, khi ngài chứng kiến mẻ cá lạ: “Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Trước sự hiện diện cuốn hút và huyền nhiệm của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé của mình (số 208).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, “nỗi sợ thánh thiện” này được lấp đầy bởi chính tình yêu bao la của Thiên Chúa. Trong bụi gai bốc cháy, Thiên Chúa mạc khải danh Ngài cho Môsê: “Ta là Đấng Ta là” (Xh 3,14). Ngài hứa với Môsê: “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3,12). Ngài mặc khải cho ông biết: “Ngài là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu ân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Sự vĩ đại và gần gũi của Thiên Chúa gắn kết với sự thánh thiện và giàu lòng thương xót của Ngài (số 210).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mọi sự trên trần gian này đều đổi thay, không ngừng đến rồi đi. Lòng người cũng thế, tâm hồn chúng ta thường xuyên thiếu trung thành, như chúng ta đã học được qua những kinh nghiệm đau thương. Trong đức tin, chúng ta được nâng đỡ vì biết rằng Thiên Chúa là Đấng luôn luôn kiên vững. Như tác giả thánh vịnh đã thốt lên trong tâm tình cầu nguyện: “Xưa Chúa đã đặt nền trái đất, chính tay Ngài tạo tác vòm trời. Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài, chúng như áo cũ thảy rồi mòn hao. Ngài thay chúng khác nào thay áo. Nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên” (Tv 102, 26-28). Thiên Chúa là “Đấng Hiện Hữu” từ muôn thuở đến muôn muôn đời, Ngài là Đấng luôn trung tín với chính mình Ngài và với các lời hứa của Ngài (số 212). Ngài không thể lừa dối vì Ngài là chân lý, Ngài không làm ai thất vọng vì Ngài là tình yêu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Têrêsa Avila đã diễn tả ý này cách tuyệt vời trong tác phẩm của ngài và được trích lại trong sách GLHTCG:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Đừng để điều gì làm cho bạn xao xuyến;<br />
Đừng để điều gì làm cho bạn lo sợ.<br />
Mọi sự đều qua đi, Thiên Chúa không thay đổi!<br />
Kiên nhẫn sẽ được tất cả.<br />
Ai có Thiên Chúa, người ấy chẳng thiếu gì:<br />
chỉ có Thiên Chúa, là đã đủ”.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai10"></a><span style="color: #000080;">Bài 10. THIÊN CHÚA BA NGÔI</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Người công giáo tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,11). Chúng ta tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Chúng ta thờ phượng Ngài: “Lạy Chúa của con và lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,28). Nhưng chúng ta nói: “Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Rất thường xuyên, người công giáo bị đặt trước câu hỏi: làm thế nào để có thể nối kết giữa niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất và niềm tin Đức Giêsu là Con hằng hữu của Thiên Chúa, và chính Ngài là Thiên Chúa, và Thánh Thần cũng được thờ phượng và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con, và Thánh Thần cũng là Thiên Chúa? Đối với người Hồi Giáo, đây là một sự mâu thuẫn, hơn thế nữa là một lạc giáo. Thiên Chúa là duy nhất, cho nên cấm thờ phượng Đức Giêsu như Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa. Đối với Do Thái giáo cũng vậy, đây là điều không thể chấp nhận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta được rửa tội và bắt đầu kinh nguyện bằng lời “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Không phải là “nhân các danh” (số nhiều – in the names) nhưng là “nhân danh” (số ít – in the name). Bởi vì chúng ta không tin vào ba Chúa, nhưng tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con, và Thánh Thần (GLHTCG số 233).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tin vào Ba Ngôi Chí Thánh là điều không thể hiểu nếu chỉ ở trên bình diện lý trí; mầu nhiệm này siêu vượt trên lý trí hoàn toàn. Nhưng, khi chúng ta đón nhận mầu nhiệm ấy trong đức tin, thì chúng ta khám phá ra mầu nhiệm ấy là một nguồn sáng bao trùm tất cả: “Ôi nguồn sáng, Ba Ngôi diễm phúc, là Căn Nguyên Duy Nhất vũ hoàn!” như trong kinh nguyện của Hội Thánh trong bài thánh thi của giờ kinh chiều (số 257). Mầu nhiệm sâu thẳm nhất của Thiên Chúa là: Thiên Chúa là Ba Ngôi vị và mọi điều chúng ta tin về Thiên Chúa và công trình của Ngài đều được đan xen với mầu nhiệm này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Ân sủng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em” (2 Cr 13,14). Chúng ta đã quen thuộc với lời chào chúc của tông đồ Phaolô được dùng trong các thánh lễ. Tình yêu của Chúa Cha là cội nguồn uyên nguyên của mọi sự. Thiên Chúa là tình yêu và mọi sự đều xuất phát từ tình yêu vô tận này, trên tất cả chính là Người Con hằng hữu và Chúa Thánh Thần. Trong chính Ngài, Thiên Chúa là mầu nhiệm tình yêu phong nhiêu. Ngôi Con được Chúa Cha sinh ra từ đời đời, nhưng không phải như một thụ tạo mà là “ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật” (số 242). Chúa Thánh Thần nhiệm xuất từ đời đời bởi Chúa Cha và Chúa Con, là Ngôi Thứ Ba trong Ba Ngôi, duy nhất và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con (số 245).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Do tính duy nhất của hữu thể, Ngôi Cha hoàn toàn ở trong Ngôi Con và hoàn toàn ở trong Thánh Thần, cũng như thế khi nói về Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Ba Ngôi Vị thực sự là Thiên Chúa duy nhất. Do đó, mọi điều Thiên Chúa thực hiện là công trình của Ba Ngôi. Chúa Cha không bao giờ hành động tách khỏi Con và Thánh Thần, nhưng mỗi Ngôi Vị hành động trong cách riêng của Ngôi Vị đó: “Một Thiên Chúa duy nhất là Cha, mọi sự đều bởi Ngài; Một Chúa Giêsu Kitô, mọi sự đều nhờ Người; và Một Chúa Thánh Thần, mọi sự đều trong Ngài” (số 258). Mọi sự khơi nguồn từ tình yêu của Chúa Cha; qua Chúa Con chúng ta đón nhận tất cả ân sủng và tình yêu của Chúa Cha (Ga 1,14.18); cũng như Cha và Con là một trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần, thì tất cả những ai được ân sủng Chúa Kitô chạm đến đều được đưa vào trong sự hiệp thông này (số 1997).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mục tiêu trước hết và sau hết trong tất cả các công trình của Thiên Chúa là chúng ta được nhận biết, và yêu mến Thiên Chúa, như thế, ngay từ hôm nay và mãi mãi chúng ta được mời gọi đi vào trong sự hiệp thông với Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi (số 260).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai11"></a><span style="color: #000080;">Bài 11. THIÊN CHÚA LÀ CHA CHÚNG TA</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha&#8230; ” &#8211; Đó là những lời khởi đầu trong kinh Tin kính của các tông đồ. Chúng ta có thể nói rằng <i>Thiên Chúa là Cha</i> chính là trọng tâm mạc khải của Chúa Giêsu. Khi nói về Thiên Chúa, Chúa Giêsu gọi bằng một danh xưng rất riêng biệt và mang tính ngôi vị, đó là ‘Cha’. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chính vì thế, Hội Thánh sơ khai vẫn giữ lại cách xưng hô từ nguyên ngữ tiếng Aram mà Chúa Giêsu dùng khi nói về Thiên Chúa trong kinh nguyện của Hội Thánh, đó là ‘Abba’ (Rm 8,15; Gl 4,6). Hội Thánh làm như thế vì Chúa Giêsu đã cầu nguyện và nói với Thiên Chúa trong cách đó, cũng như chính Ngài đã dạy các môn đệ cầu nguyện với Thiên Chúa là “Lạy Cha chúng con”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hình thức cầu nguyện gọi Thiên Chúa là Cha có nghĩa là gì? Phải chăng chỉ là hình ảnh giữa những hình ảnh khác? Chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Mẹ chúng ta được không? Như thỉnh thoảng ta thấy đâu đó sử dụng? Theo Đức hồng y Christoph Schönborn, một khẳng định Thiên Chúa là Mẹ là không chính đáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nghĩa chính xác khi gọi Thiên Chúa là Cha được Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta. Qua thuật ngữ này, Chúa Giêsu không chỉ diễn tả mối liên hệ sâu xa nhất của Ngài với Thiên Chúa nhưng còn mạc khải mức độ tương quan với Thiên Chúa mà chúng ta gọi là Cha, đó là chúng ta được nhận làm con. “Abba” là tiếng trẻ thơ gọi Cha nó, như “bố ơi”. Nó diễn tả một tương quan thân tình. Tuy nhiên nó mang một hàm ý diễn tả sự tôn kính. Chúng ta nhận ra điều này trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu tại vườn Giệtsimani (GLHTCG số 612): “Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà là điều Cha muốn” (Mc 14,36). Suốt cuộc sống trần thế cho đến lời cầu nguyện cuối cùng của Chúa Giêsu trên thánh giá, Thiên Chúa vẫn là Cha đối với Ngài: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ bởi vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34); “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Những lời tại đền thờ khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi (số 534) gợi lên một đời sống được sống từ trong mối liên hệ với Chúa Cha, và chính mối liên hệ đó quyết định mọi điều: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chính Chúa Giêsu đã xác định nền tảng của mối liên hệ này: “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho” (Mt 11,27). Điều này có nghĩa là không một ai, không thụ tạo nào đã từng có mối liên hệ thân tình với Thiên Chúa như Chúa Giêsu (số 240). Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, và Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu trong một cách duy nhất: “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Do đó, cách Chúa Giêsu nói với Thiên Chúa là Cha diễn tả điều gì đó vượt xa hơn tất cả những gì người ta hiểu về vai trò làm cha trần thế. Từ vĩnh cửu, Thiên Chúa là Cha của người con duy nhất được sinh ra, Đấng cùng bản thể với Chúa Cha, và là Thiên Chúa thật từ Thiên Chúa thật (số 242). Khi nói về Cha Ngài, Chúa Giêsu không chỉ là một con người đang nói về Thiên Chúa, nhưng là người Con vĩnh cửu của Thiên Chúa nói về người Cha vĩnh cửu của mình. Cùng với Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần, Ngài là Thiên Chúa duy nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đề cập đến mối liên hệ yêu thương của Thiên Chúa với thụ tạo của Ngài, Thiên Chúa có thể được tỏ lộ qua vai trò làm cha cũng như những thuộc tính của vai trò làm mẹ (số 239). Nếu Chúa Giêsu dạy chúng ta thờ phượng Cha Ngài cũng là Cha chúng ta, thì mạc khải danh xưng này không thể được thay đổi bằng bất cứ ‘thuật ngữ’ nào khác, bởi vì danh xưng ‘cha’ bao hàm một điều gì đó nhiệm mầu vượt xa hơn tất cả những hiểu biết của con người: nhờ Thánh Thần chúng ta tiếp nhận, như Thánh Phaolô nói: “Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: Abba, Cha ơi!” (Rm 8,15). Điều này biểu thị không theo nghĩa phái tính (là nam hoặc nữ), nhưng hơn thế nữa, chúng ta được tham dự vào mối liên hệ vĩnh cửu của Người Con với Chúa Cha (số 2780): Qua Chúa Giêsu, chúng ta được ân ban tham dự vào mối liên hệ sâu xa nhất của Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai12"></a><span style="color: #000080;">Bài 12. THIÊN CHÚA LÀ Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ấ</b><b>NG TOÀN NĂNG</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong kinh Tin kính của các tông đồ, chỉ có một phẩm tính của Thiên Chúa là Cha được đề cập: Ngài là Đấng “toàn năng”. Tại sao không đề cập đến những phẩm tính khác, chẳng hạn: nhân hậu, thương xót, và trên tất cả là tình yêu, đó là đặc tính nổi bật của Thiên Chúa như Thánh Gioan tông đồ đã nói: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8)? Tại sao kinh Tin kính lại đề cập đến quyền tuyệt đối của Thiên Chúa, điều này thường gợi lên cách nhìn tiêu cực đối với con người hôm nay? Vì trong kinh nghiệm lịch sử nhân loại, những ai cho mình là ‘toàn năng’ dễ dẫn đến ‘toàn ác’!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo chỉ dành một phần tóm tắt về phẩm tính “toàn năng” của Thiên Chúa (số 268-278) nhưng đó là phần rất quan trọng đối với toàn bộ đức tin. Bởi vì tin rằng Thiên Chúa là Đấng toàn năng là vấn đề rất quan trọng đối với đời sống của chúng ta. Thậm chí chúng ta có thể nói mạnh mẽ rằng nếu chúng ta không tin Thiên Chúa là Đấng toàn năng, thì chúng ta không còn tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dân Chúa trong Cựu Ước luôn xác tín Thiên Chúa thực sự là Đấng toàn năng: “Thiên Chúa chúng ta ở trên trời, muốn làm gì là Chúa làm nên” (Tv 115,3); Đức Chúa vinh hiển đó là ai? “Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng” (Tv 24,8). Ý nghĩa sâu xa sự cao cả của Thiên Chúa được diễn tả tràn ngập trong các thánh vịnh. Kinh nguyện của Hội Thánh cũng đầy tràn tinh thần đó. Kinh nguyện thường mở đầu với những lời: “Lạy Thiên Chúa là Đấng toàn năng, hằng hữu&#8230;”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thuật ngữ “toàn năng” gợi lên trong ký ức chúng ta những chế độ chuyên chế độc tài, những quyền lực mù tối, những ông chủ hà khắc. Trong Thánh Kinh và trong kinh nguyện của Hội Thánh, có một vang âm hoàn toàn khác. Chính vì Thiên Chúa là Đấng toàn năng, hằng hữu, nên người tín hữu mới có thể hướng về Ngài với sự tin tưởng hoàn toàn. Trong Ngài, người ta tìm được nơi ẩn náu, nếu không có Ngài thì ai có thể làm được mọi điều (Gióp 42,2)? Sự toàn năng của Thiên Chúa không mang dấu vết của độc đoán và hay thay đổi, vì quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa không tách rời sự tốt lành, công chính, và lòng thương xót của Ngài. Trong kinh Tin kính, chúng ta gọi Thiên Chúa là “Cha toàn năng”. Giữa những khổ đau và bấp bênh của thế giới này, niềm tin vào Thiên Chúa toàn năng là nguồn bảo đảm và nâng đỡ cho những ai nhìn lên Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những kinh nghiệm kém may mắn, đau khổ và sự ác trong cuộc sống có thể làm lung lạc niềm tin vào sự tốt lành của Vị Thiên Chúa toàn năng. Tại sao Thiên Chúa không ngăn chặn quá nhiều đau khổ trong cuộc đời này, nếu Ngài là Đấng toàn năng? Khôn ngoan của con người rơi vào sự thinh lặng trước vấn nạn này, tuy nhiên chính Thiên Chúa đã có lời đáp qua Đức Giêsu Kitô. Phép lạ lớn nhất về quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa được thực hiện khi Thiên Chúa sai người Con duy nhất đi vào trong sự yếu đuối và nghèo hèn của mầu nhiệm nhập thể và thập giá. “Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả”, đó là lời cầu nguyện nhập lễ trong Chúa nhật 26 thường niên. Không có bằng chứng nào về quyền tuyệt đối của Thiên Chúa lớn hơn bằng chứng về tình yêu của Ngài. Chính từ tình yêu tuyệt đối ấy mà Chúa Giêsu trao ban sự sống của Ngài cho chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tin vào quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa là căn bản cho mọi điều khác mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin kính. Làm sao chúng ta tin Thiên Chúa tạo dựng trời đất nếu Ngài không toàn năng? Làm sao tin vào những công trình của Đức Giêsu Kitô: làm người, chết vì chúng ta, đã thực sự sống lại, nếu Ngài không toàn năng? Làm sao tin Chúa Thánh Thần có thể biến đổi chúng ta qua ân sủng của Ngài, nếu chúng ta không, cùng với Đức Maria, chấp nhận trong đức tin sứ điệp của thiên thần: “Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37)?</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai13"></a><span style="color: #000080;">Bài 13. THIÊN CHÚA T</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ạ</b><b>O D</b><b>Ự</b><b>NG</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Lúc khởi đầu, Thiên Chúa tạo nên trời và đất” (St 1,1). Ai lại không xúc động trước những lời mạnh mẽ mở đầu Sách Thánh như thế? Công việc trước hết của Thiên Chúa là tạo dựng. Cách nào đó, tạo dựng là mô hình và nền tảng cho tất cả những hành động xa hơn nữa của Thiên Chúa. Tách rời khỏi đức tin vào Thiên Chúa tạo dựng, sự cứu rỗi và ơn cứu độ sẽ không có nền tảng (GLHTCG số 279).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những bài đọc dài trong Đêm Canh Thức Vượt Qua luôn luôn bắt đầu với trình thuật tạo dựng. Thế giới này do Thiên Chúa tạo nên, Ngài cũng cứu độ nó qua cái chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Cũng giống như phụng vụ, trong nhiều thế kỷ, giáo lý và lời rao giảng luôn bắt đầu với niềm tin vào Thiên Chúa – Đấng tạo dựng trời đất. Ngày nay, chúng ta đang khám phá lại tầm quan trọng của niềm tin tạo dựng. Nếu không có niềm tin vào Thiên Chúa tạo dựng, niềm tin vào Đức Giê su Kitô không có nền tảng. Đó là lý do giáo lý về tạo dựng chiếm tầm quan trọng đặc biệt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hỏi: Tại sao Thiên Chúa tạo dựng thế giới?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trả lời: Thế giới được tạo dựng để làm vinh danh Thiên Chúa. (số 293)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Rất thường xuyên, chúng ta ca ngợi sự vĩ đại của Thiên Chúa qua công trình tạo dựng: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,1). Không phải vì Thiên Chúa cần chúng ta ca ngợi để gia tăng vinh quang của Ngài, nhưng hoàn toàn phát xuất từ lòng nhân hậu của Ngài, Thiên Chúa đã tạo dựng mọi vật từ hư không, để thông truyền hạnh phúc vĩnh hằng của Ngài. Thế giới này không phải là loại ‘phụ phẩm’ của một sự ngẫu nhiên, nhưng diễn tả tình yêu và sự khôn ngoan tự trao ban của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Công trình Ngài, lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan” (Tv 104,24). Điều mà tác giả đã nhận biết qua thánh vịnh này cũng là điều chúng ta thường xuyên giả định. Chúng ta giả định thế giới được đặt trong trật tự theo những định luật chúng ta nỗ lực khám phá. Toàn bộ nhận thức khoa học tự nhiên của chúng ta về vũ trụ được xây dựng trên giả định này. Những gì là ngẫu nhiên không thể nghiên cứu theo phương pháp khoa học, chỉ có trật tự mới có thể nghiên cứu. Và trật tự trong vũ trụ bày tỏ thượng trí đã ấn định trật tự ấy. Tạo dựng chứng tỏ sự khôn ngoan của Đấng Tạo hóa (GLHTCG 295)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta có thể tiếp nhận ngôn ngữ của công trình tạo dựng mặc dù phải thanh luyện cách nhìn và con tim. Không phải ngẫu nhiên mà các thánh có mối liên hệ rất đặc biệt với tạo vật. Thánh Phanxicô là một minh họa nổi bật. Khi chúng ta để mình bị chế ngự, bị ám ảnh bởi những khao khát và thèm muốn, khi đó tạo vật không thể mạc khải cho ta tất cả sự tinh tuyền của nó. Chỉ trong tự do chúng ta mới có thể nhận thức những điều được tạo dựng các thích hợp (GLHTCG 299). Thiên Chúa bắt đầu nói với con người trong ngôn ngữ của tạo vật, và tâm tình ca ngợi Thiên Chúa trào lên trong trái tim con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có lạ lùng không khi một trong những bài ca đẹp nhất ca ngợi tạo vật lại đến từ một người đang đau khổ và tiến dần đến sự chết? Khi thánh Phanxicô cầu nguyện “Bài ca tạo vật” (GLHTCG 344) tại San Damiano, ngài đang bị hành hạ bởi những đau đớn và hầu như mù lòa. Đau khổ và nghịch cảnh đã thanh luyện ngài để trải ra với ngôn ngữ tình yêu của Thiên Chúa trong toàn thể tạo vật. Đó không phải là sự lãng mạn nhưng là lời ca ngợi Thiên Chúa cho dù đau khổ và vượt lên trên đau khổ. Nhưng tại sao Thiên Chúa tốt lành lại cho phép những hủy diệt và sự ác hiện diện trong công trình của Ngài?</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai14"></a><span style="color: #000080;">Bài 14. S</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ự</b><b> QUAN PHÒNG C</b><b>Ủ</b><b>A THIÊN CHÚA</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Nếu Thiên Chúa là Cha toàn năng. Đấng tạo dựng nên trần gian có trật tự và tốt đẹp, chăm sóc tất cả các thụ tạo của Ngài, thì tại sao lại có sự dữ?” (GLHTCG số 309) “Tại sao Thiên Chúa lại không tạo dựng một trần gian thật hoàn hảo đến nỗi không thể có một sự dữ nào trong đó?” (số 310).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Không ai thoát khỏi câu hỏi tại sao sự dữ hiện diện. Và trong cuộc sống này, không câu trả lời nào có thể giải quyết rốt ráo điều bí ẩn đó. Chúng ta chỉ có thể hiểu hoàn toàn khi diện đối diện với Thiên Chúa. Hiện nay sự hiểu biết của chúng ta mới chỉ là từng phần. Nhưng để chiến đấu với bóng tối của sự ác, chúng ta không thể bỏ qua câu hỏi này cách dễ dàng mà không cố gắng tìm câu trả lời. Chứng từ của các thánh thì rõ ràng và sáng chói cho chân lý đức tin này: Các thánh xác thực rằng không có gì diễn ra nơi chúng ta lại không qua sự quan phòng của Thiên Chúa. Đời sống của các ngài tỏ lộ điều đó: các ngài tin tưởng hoàn toàn vào quyền năng và tốt lành của Thiên Chúa quan phòng. Các ngài đón nhận Bài giảng trên núi làm la bàn hướng dẫn cho giá trị đời sống: “Vì thế anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? … Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó” (Mt 6,31-32).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thái độ quy phục theo ý muốn của Cha trên trời là yếu tố trung tâm trong lời rao giảng của Đức Giêsu. Đó là lý do tại sao Ngài dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (số 2822). Ngài hứa ban cho chúng ta “mọi thứ cần thiết khác” nếu trước hết và trên hết, chúng ta tìm kiếm Nước Thiên Chúa (Mt 6,33).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Sự quan phòng” mà chúng ta tin tưởng đó là gì? Dù thuật ngữ này đã bị hiểu sai trong những chế độ độc tài, nhưng điều đó không ngăn chặn chúng ta sử dụng và hiểu thuật ngữ này cách xứng hợp. Chúng ta hiểu “sự quan phòng” là những sắp đặt qua đó Thiên Chúa hướng dẫn tạo vật đạt đến sự hoàn hảo (số 302). Bởi vì Thiên Chúa không đơn giản là Đấng Tạo Hóa rời bỏ những tạo vật do ‘tay Ngài làm nên’ tùy thuộc cho số phận của nó – theo kiểu kiến trúc sư sau khi trao căn nhà và đã có người đến ở thì ông không còn làm gì khác thêm nữa. Thiên Chúa tạo dựng không chỉ dừng lại ở mức độ Ngài quyết định khởi đầu cho mọi sự, kêu gọi mọi sự đi vào hiện hữu từ hư không, nhưng còn ở mức độ Ngài tiếp tục nuôi dưỡng thụ tạo và hướng dẫn nó đạt đến mục tiêu cuối cùng. Tất cả thụ tạo, ngay cả những ai xa rời Thiên Chúa, vẫn hoàn toàn ở trong tay Ngài (số 301).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thiên Chúa quan phòng chăm sóc mọi sự cách cụ thể và trực tiếp: ngay cả những gì nhỏ bé nhất cũng được tính đến như con chim sẻ, như tóc trên đầu (Mt 10,29-30). Mọi năng lực của chúng ta cũng vậy, ngay cả ý muốn của chúng ta cũng ở trong bàn tay tình yêu quan phòng của Thiên Chúa (số 303). Thiên Chúa ban cho thụ tạo của Ngài khả năng để hành động cách hiệu quả. Ý định quan phòng của Thiên Chúa là chúng ta nên sử dụng những gì Ngài trao cho chúng ta vì ích lợi của chính chúng ta. Chúng ta được phép tham dự vào sự quan phòng của Thiên Chúa, chúng ta thực hiện bằng cách làm những việc thiện hảo cho nhau và vì nhau (số 306, 1951).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thật là mầu nhiệm, ngay cả những hành động gian ác của chúng ta cũng không ra ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa. Một cách nào đó chỉ có mình Thiên Chúa biết, Ngài cho phép có sự ác nhưng cuối cùng Ngài xoay chiều cái ác thành cái thiện (St 45,8; 50,20). Mầu nhiệm này đạt đến đỉnh điểm trong cái ác lớn nhất mà con người đã làm: giết Người Con chí ái của Thiên Chúa trên thánh giá (số 312). Thiên Chúa đã biến đổi hành động này thành sự thiện: “Lạy Chúa Giêsu, chúng con tôn thờ Chúa và chúng con chúc tụng Chúa vì nhờ cây Thánh giá mà Chúa đã cứu chuộc thế giới”.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai15"></a><span style="color: #000080;">Bài 15. CÁC THIÊN TH</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ầ</b><b>N</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Hãy ở lại, hỡi các thiên thần, xin ở lại với tôi”. Đó là những lời trong một bài hát mà nhà soạn nhạc tài ba Bach đã sáng tác trong ngày lễ Tổng lãnh thiên thần Micae. Nhà phê bình Walter Nigg đã nhận xét về những lời ca này: “Bach ý thức cách rõ ràng có một điều gì đó gắn bó thân thiết với đời sống chúng ta đang có nguy cơ bị mất trong Kitô giáo. Dường như đối với Bach các thiên thần đang dần dần bị đặt ra khỏi đời sống con người. Bach cảm nhận đây thực sự là một thảm họa … điều gì sẽ xảy đến nếu các thiên thần không ở lại với chúng ta, nếu chỉ còn mỗi chúng ta, nếu không có sự quan tâm giúp đỡ của các thiên thần?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Các thiên thần có thuộc về những điều làm nên “yếu tố trung tâm của đức tin” không? Chắc chắn các thiên thần không phải là trung tâm của đức tin chúng ta. Cả chúng ta cũng thế! Trung tâm đức tin là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và người thật, mọi điều khác đều quay quanh trung tâm này, bao gồm các thiên thần và chính chúng ta!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Không thiên thần nào tranh luận về điều vừa nói (trừ ra các thiên thần ‘sa ngã’, những thụ tạo đã thất bại vì muốn làm cho mình trở thành trung tâm); ngược lại, vẻ huy hoàng và niềm vui của các thiên thần hệ tại ở điều này: đời sống các ngài hoàn toàn hướng về trung tâm điểm là Thiên Chúa, các ngài phục vụ Thiên Chúa hằng sống và tôn thờ mầu nhiệm Chúa Kitô bằng trọn sự sống của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Do đó, các thiên thần có thật và sự hiện hữu của các ngài là chân lý đức tin (GLHTCG số 328), Cũng như trái tim không hiện hữu cho mình nó, trung tâm đức tin cũng vậy. Hiện hữu của các thiên thần là sự chắc chắn của đức tin, là một phần của cơ thể sống động; và cũng như tất cả những chân lý đức tin, việc nhận biết những thụ tạo thiêng liêng thuần túy của Thiên Chúa cũng là sự trợ giúp cho chúng ta trong đời sống của mình. Trên hết, điều này được chứng thực trong toàn bộ Thánh Kinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lịch sử cứu độ không thể nghĩ đến nếu tách rời các thiên thần. Đối với chúng ta, bản chất các thiên thần là một mầu nhiệm và không hiểu thấu bởi vì các ngài là thụ tạo thiêng liêng thuần túy. Các thiên thần có sự gần gũi đặc biệt với Thiên Chúa. Đó là điều tại sao trong Cựu Ước, Thiên Chúa thường xuất hiện và nói qua các thiên thần. Khi chúng ta nhìn lại rất nhiều lần hiện ra của các thiên thần trong Thánh Kinh (số 332-333), chúng ta nên cẩn thận đừng vội vã cho rằng các ngài chỉ là những cách diễn tả một thế giới quan của một thời đại nhất định. Nhưng hơn thế, chúng ta nên tự hỏi phải chăng cảm thức tôn giáo của chúng ta về các thiên thần đã bị lu mờ, so với cảm thức tôn giáo của những tín hữu thế hệ trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đời sống của Chúa Giêsu được bao quanh bởi việc phục vụ của các thiên thần, từ truyền tin qua giáng sinh đến cơn hấp hối trong vườn Giệtsimani, rồi buổi sáng phục sinh và siêu thăng. Điều ấy cũng được áp dụng cho đời sống Hội thánh và mỗi Kitô hữu. “Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một thiên thần hộ thủ, hướng dẫn họ đến sự sống”, thánh Basil nói như thế và do đó khẳng định niềm tin vào “thiên thần bản mệnh” mà Thiên Chúa ban để đồng hành với mỗi người (số 336). “Hãy ý tứ và nghe lời người, đừng nổi loạn chống lại người”, Thiên Chúa nói với Dân Ngài và như thế cũng nói với mỗi người chúng ta (Xh 23,21). Cũng như trong kinh “Thánh, Thánh, Thánh”, chúng ta kết hợp tiếng hát của chúng ta với các thiên thần để ca ngợi vinh quang Thiên Chúa, thì con đường chúng ta đi qua cuộc sống đời này cần được kết hợp với các thiên thần, để dẫn đến mục tiêu cách chắc chắn. Đồng thời Hội thánh cũng cầu xin các thiên thần tiếp tục đồng hành với chúng ta vượt qua sự chết và trên suốt chặng đường tiến về thiên đàng (số 1020).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai16"></a><span style="color: #000080;">Bài 16. TR</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ờ</b><b>I VÀ Đ</b><b>Ấ</b><b>T</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong kinh Tin Kính của các tông đồ, chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa tạo dựng “trời và đất”. Mệnh đề này diễn tả “toàn thể tạo thành”, hoặc như kinh Tin Kính của Công đồng Nicea diễn tả rõ hơn: “muôn vật hữu hình và vô hình”. Chúng ta đã thảo luận về thụ tạo thiêng liêng thuần túy là các thiên thần, tiếp theo chúng ta thảo luận về con người là loài thụ tạo liên kết nơi chính mình cả trật tự hữu hình và vô hình của thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế giới hữu hình bao gồm “trời và đất”: vũ trụ vượt xa hơn chúng ta, bầu trời và thế giới trong đó chúng ta sống, hành tinh trái đất. Đức tin nói với chúng ta rằng tất cả đều được tạo dựng (GLHTCG số 326). Còn về việc trời và đất, vũ trụ đã đi vào hiện hữu <i>nh</i><i>ư</i><i> th</i><i>ế</i><i> nào</i> thì có rất nhiều những khám phá, những giả thuyết và lý thuyết khoa học. Phải chăng vũ trụ bắt đầu với một vụ “nổ lớn” <i>(big bang)</i>? Và nó vẫn đang tiếp tục giãn nỡ ? Hệ mặt trời xuất hiện như thế nào? Tại sao hành tinh trái đất ở giữa những năng lực khủng khiếp của vũ trụ nhưng lại có sự ôn hòa đến độ sự sống có thể hiện hữu ở trên đó (số 282-289)?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Kiến thức khoa học tự nhiên đích thực không thể tương phản với đức tin (số 159). Tuy nhiên, điều mà không khoa nhân văn nào có thể giải thích lại là câu hỏi nền tảng của suy tư: “Tại sao đã có một điều gì đó hơn là không có gì?” Và xa hơn nữa: trong tiến trình phát triển của vũ trụ, trái đất này đã xuất hiện như thế nào, và sự sống xuất hiện trên đó, cuối cùng là con người? Bất cứ ai nói rằng tất cả đều xuất hiện qua những tương tác mù tối của ngẫu nhiên thì phải giải thích cho câu hỏi cần thiết tiếp theo: Làm thế nào một chuỗi những trùng hợp ngẫu nhiên không thể hiểu được lại có thể xảy ra, trong tiến trình phát triển vũ trụ, như một đòi hỏi cần thiết để hỗ trợ cho trái đất xuất hiện một môi trường sống cho con người? Các nhà chuyên môn nỗ lực nghiên cứu những mặc định cần thiết cho tất cả đã nói về “nguyên tắc quy nhân”<i> (anthropocentric)</i>. Mọi sự nhìn như thể toàn bộ những phát triển này và từng giai đoạn của nó được điều hành bởi một chương trình bậc thày. Chương trình này, chúng ta chỉ có thể khám phá từng phần vụn vặt với sự ngỡ ngàng. Đức tin nói cho chúng ta biết chương trình này là công việc của hữu thể tình yêu, khôn ngoan và vô cùng (số 295).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trình thuật Thánh Kinh về công việc của Thiên Chúa trong sáu ngày (St 1) không nói cho chúng ta cách chi tiết làm <b><i>th</i></b><b><i>ế</i></b><b><i> nào</i></b> trời và đất đi vào trong hiện hữu, nhưng nói rằng <b><i>t</i></b><b><i>ấ</i></b><b><i>t c</i></b><b><i>ả</i></b><b><i> nh</i></b><b><i>ữ</i></b><b><i>ng đi</i></b><b><i>ề</i></b><b><i>u đó</i></b> do Thiên Chúa tạo dựng, hơn nữa, sự khác biệt to lớn của chúng là do ý muốn của Đấng Tạo Hóa (mỗi thứ theo từng loại). Sự đa dạng của các vật không thể đếm được trong thế giới này là cách diễn tả sự vĩ đại của Đấng Tạo Hóa. Do đó, chúng ta phải có thái độ tôn trọng đối với từng thụ tạo. Đó là nền tảng cho cách tiếp cận luân lý đối với thụ tạo (số 339).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trình thuật tạo dựng còn hàm ý rằng giữa các thụ tạo có một sự liên đới (số 344). Tất cả chúng, dù lớn hay nhỏ, đều có cùng một Đấng Tạo Hóa, Đấng đã cung cấp trái đất cho muôn loài như một môi trường sống chung. Và tất cả đều có một vận mạng vượt xa hơn trời và đất, đó là tạo dựng mới (số 1046), là Vương quốc vĩnh cửu của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai17"></a><span style="color: #000080;">Bài 17. CON NG</span></b><span style="color: #000080;"><b>ƯỜ</b><b>I</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” Trước câu hỏi đầy ngỡ ngàng này, vịnh gia trả lời:<br />
“Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,<br />
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,<br />
cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân:<br />
Nào chiên bò đủ loại, nào thú vật ngoài đồng,<br />
nào chim trời cá biển, mọi loài ngang dọc khắp trùng dương” (Tv 8,5-8)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Con người – đỉnh cao của tạo dựng? Cách đây 50 năm, Công đồng Vatican II đã nói: “Những người tin cũng như những người không tin đều có chung quan điểm là mọi vật trên địa cầu phải được quy hướng về con người như là trung tâm và đỉnh cao của vạn vật” (<i>Gaudium et spes</i>, số 12). Ngày nay, nhiều khuynh hướng nhìn con người là kẻ tàn phá thiên nhiên và làm rối loạn hòa bình. Lại chẳng phải do sự tự phụ của con người đã tự nâng mình lên trên các thụ tạo khác hay sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cách đây nhiều năm, Adolf Portmann, một nhà sinh vật học lớn, đã viết: “Thời gian vẫn chưa quá xa khi chúng ta đã có thể tin rằng muôn sắc của các loài bướm, những tiếng hót của các loài chim, và sự rực rỡ của các loài hoa được tạo nên vì niềm vui của chúng ta. Sự lừa dối an toàn này, qua đó hiện hữu của chúng ta được nâng lên quá cao dường như là đỉnh điểm của tất cả sự sống, đã bị phá hủy bởi cái nhìn đầu tiên của chúng ta xuống dưới đại dương bao la”. Đúng như vậy, thế giới sâu thẳm của đại dương bao la không liên quan đến chúng ta, cũng như sự giãn nở của vũ trụ bao la. Tuy nhiên, chỉ con người mới có thể thâm nhập vào những chiều sâu của đại dương và không gian bên ngoài để khám phá đôi chút những huyền nhiệm của nó, và chỉ con người mới có thể nhận ra rằng có nhiều điều mình không biết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sự vĩ đại của con người không nằm ở sức mạnh thể lý vì sư tử mạnh hơn nhiều và loài hươu nhanh hơn nhiều, nhưng là ở bản tính thiêng liêng và trí tuệ của con người: Chỉ mình con người mới có thể biết và yêu, do đó nhận ra rằng nó biết và nó yêu. Đó là điều Công đồng Vatican II viết: “Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ” (<i>Gaudium et spes</i>, số 24) và sách Giáo Lý giải thích: “Chỉ con người được kêu gọi tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, bằng sự nhận biết và tình yêu” (GLHTCG số 356).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sự vĩ đại của con người là ở chỗ họ có thể trở thành bạn hữu của Thiên Chúa. Bất cứ ai nhìn con người chỉ là thành phần của thiên nhiên, không có mục tiêu nào khác hơn sự sống trần thế này, sẽ cho rằng những trình thuật của thánh vịnh về sự cao cả của con người là cường điệu. Nhưng sẽ hoàn toàn khác nếu chúng ta chấp nhận lời mặc khải của Thiên Chúa: “Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1,27). Vị thế độc đáo này của con người được diễn tả qua thuật ngữ “ngôi vị”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Mỗi cá nhân con người, bởi vì được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm giá của một ngôi vị, không chỉ là một sự vật nào đó nhưng là một ai đó.” (số 357). “Ngôi vị” đó không đơn giản là một con số trong hàng loạt các dãy số tự nhiên, nhưng “tôi” duy nhất được mong muốn, được yêu và được gọi bởi Thiên Chúa. Và bất cứ ai nói “ngôi vị” cũng là nói đến “cộng đoàn”. Anh hay chị không phải là một sự vật khác nhưng là một ai khác. “Một tôi” chủ thể (là anh hay chị) cũng được Thiên Chúa yêu thương như tôi, và được kêu gọi đến sự sống vĩnh cửu. Do đó, “mọi người thật sự đều là anh em” (số 361).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai18"></a><span style="color: #000080;">Bài 18. XÁC VÀ H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ồ</b><b>N</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sự khác biệt giữa các thực tại thể lý và tâm lý là kinh nghiệm quen thuộc đối với mọi người. Chẳng hạn, đau răng là một điều khác biệt đối với dằn vặt tâm lý. Suy tư là điều khác biệt đối với tiêu hóa. Nhưng cả hai loại này gắn liền với một nhân vị. Chúng ta nói rất chính xác: “Tôi” bị nhức đầu, hoặc “tôi” thưởng thức âm nhạc. Như Công đồng Vatican II trình bày: “Con người là một chủ vị duy nhất gồm có thể xác và linh hồn” (<i>Gaudium et spes</i>, số 14; GLHTCG số 364).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Con người là một nhân vị gồm thể xác và tinh thần trong đó thế giới vật chất và thế giới tinh thần được liên kết với nhau, đó là một chân lý có thể hiểu được nhờ lý trí của chúng ta. Tuy nhiên, những nhận thức sai lầm về con người dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm vẫn thường xuyên được lặp lại. Thí dụ, chủ nghĩa duy vật chất từ chối sự hiện hữu của linh hồn và chỉ thấy con người là một phần của thế giới vật chất. Ngược lại, Ngộ đạo thuyết và những giáo phái bí truyền đang lan rộng mạnh ngày nay, dạy rằng: con người, trong yếu tính, là một thần linh bị đày đọa vào trong thế giới vật chất, xa lạ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ở đây, đức tin trợ giúp cho lý trí khẳng định trong cách nhìn chính xác: con người gồm tinh thần và vật chất. Trình thuật Thánh Kinh về tạo dựng diễn tả điều này bằng ngôn ngữ hình ảnh: Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người và thổi vào mũi nó sinh khí của sự sống: “Và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Thân xác và sinh khí của sự sống: cả hai là công trình của Thiên Chúa, nhưng chính “linh hồn” là điều trước hết làm cho con người là người: qua linh hồn, con người tương tự với Thiên Chúa, hiện hữu theo hình ảnh của Thiên Chúa (St 1,27).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đó là lý do tại sao linh hồn có giá trị hơn thân xác (GLHTCG số 363). Điều này được biết đến nơi các thánh tử đạo xuyên qua các thời đại. Trung thành với Thiên Chúa thì quan trọng hơn duy trì sự sống thân xác với cái giá của sự phản bội. Do đó ngay từ trong Cựu Ước, cụ già Eleazar đã kháng cự lại những nỗ lực bắt ông bất tuân giới răn của Thiên Chúa, ông nói: “Tôi vẫn cam chịu những lằn roi gây đau đớn dữ dằn trong thân xác, còn trong tâm hồn tôi vui vẻ chịu khổ vì lòng kính sợ Người” (2Mcb 6,30). Chính Đức Kitô dạy chúng ta: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Con người không được khinh miệt sự sống thân xác” (số 364). Không có khẳng định nào mạnh mẽ hơn về giá trị thân xác cho bằng mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa. Đức Kitô sinh ra trong một thân xác, phục sinh trong thân xác. Ngài ngự bên hữu Chúa Cha với thân xác vinh quang của Ngài. Và chúng ta được gắn bó với Chúa Giêsu trong thân xác qua các bí tích (số 1116), đặc biệt qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta hình thành một thân thể với Đức Kitô, chúng ta được phép trở thành những chi thể trong thân mình Ngài (số 789). “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần sao?” (1Cr 6,19)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cả thân xác và linh hồn được tạo dựng cho Thiên Chúa. “Thân xác con người không phải để gian dâm mà để phụng sự Chúa” (1Cr 6,13). Do đó, chúng ta buộc phải tôn trọng thân xác: thân xác của chúng ta và thân xác của anh chị em, đặc biệt thân xác của những người đau khổ. “Như thế, anh em tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1Cr 6, 20).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai19"></a><span style="color: #000080;">Bài 19. NAM VÀ N</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ữ</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời đầu tiên con người thốt lên trong Thánh Kinh là tiếng reo vui về sự hiện diện của người nữ mà Thiên Chúa đã ban cho để người nam không đơn độc: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” (St 2,23). Như thế, khẳng định đầu tiên về người nam và người nữ là: Thiên Chúa đã tạo dựng – cũng có nghĩa Ngài muốn như thế – con người là phái nam và phái nữ. Con người hiện hữu trong hình thức khác biệt được nhấn mạnh là nam giới và nữ giới, đó không phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên hoặc bởi cơ may mù quáng nhưng đó là một “ý tưởng” tuyệt vời của thiên Chúa (GLHTCG số 369).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có hai chân lý chứa đựng trong điểm thiết yếu này:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">(1) Cả hai người nam và người nữ chia sẻ cùng một bản tính căn bản, do đó họ bình đẳng về mặt giá trị &#8211; cả hai bình đẳng hoàn toàn như những nhân vị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">(2) Dù họ khác nhau, cả hai là “sự hoàn hảo” và họa ảnh của Thiên Chúa theo cách riêng của họ. Là nam và là nữ thì tốt; chính Thiên Chúa đã xác định và mong muốn điều này: “Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Trong truyền thống kinh nguyện Do Thái giáo, mỗi sáng thức dậy người đàn ông tạ ơn Thiên Chúa: Con tạ ơn Chúa vì con được sinh ra là người đàn ông. Người phụ nữ cũng thế: con tạ ơn Chúa vì con được sinh ra là người đàn bà.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đàn ông và đàn bà được tạo dựng cho nhau. Như ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Kinh đã trình bày: Không con vật nào là “trợ tá tương xứng” với con người vì thế con người cảm thấy thiếu vắng và đơn độc (St 2,20). Ngày nay, thật là đáng thương khi có những vật nuôi trong nhà được chờ đợi để bù đắp cho sự đơn độc của con người (số 2418). Nhưng, cả hai người nam và nữ không phải là những phần thiếu hoàn hảo mà trước hết phải bổ sung cho nhau qua sự hợp nhất hỗ tương. Họ là những nhân vị độc lập, mỗi người mong muốn là “người trợ giúp” cho người khác. Sự kiện người nam và người nữ được lôi cuốn đến với nhau được Thánh Kinh giải thích khác với huyền thoại Hy Lạp. Huyền thoại này cho rằng mỗi người nam và người nữ là thành phần của con người toàn thể trước đây bị các thần linh trừng phạt phân đôi, kết quả từ đó cả hai nửa này tìm kiếm lẫn nhau một cách khó khăn. Mạc khải Thánh Kinh cho biết tình yêu giữa người nam và người nữ được chính Thiên Chúa ban tặng. Tình yêu mãnh liệt, đam mê dữ dội, ngọn lửa bừng cháy, sức mạnh không thể hủy diệt (Diễm ca 8,6) là những hình ảnh ưa thích mà Thánh Kinh dùng để diễn tả tình yêu mãnh liệt của Thiên Chúa đối với con người (GLHTCG số 796).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng tại sao lại thường xuyên diễn ra những kinh nghiệm đau thương phát sinh từ sự xáo trộn trong mối tương quan giữa người nam và người nữ? Sách Giáo Lý giải thích: “Sự hợp nhất của họ lúc nào cũng bị đe dọa bởi sự bất hòa, óc thống trị, sự bất trung, lòng ghen tương, và sự xung đột những điều đó có thể đưa đến hận thù và đoạn tuyệt” (số 1606). “Theo đức tin, sự xáo trộn này – mà chúng ta cảm nghiệm một cách đau lòng – không phát xuất từ bản tính của người nam và người nữ, cũng không do bản chất của các mối tương quan giữa họ, nhưng do tội lỗi” (GLHTCG 1607).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nguyên tội, một sự phá vỡ nền tảng trong tương quan với Thiên Chúa, cũng phá hủy sự hiệp thông hài hòa nguyên thủy giữa người nam và người nữ. Tương quan hợp tác bị thay thế bởi ý muốn thống trị và tương quan tin tưởng lẫn nhau bị thay thế bởi đổ lỗi lẫn nhau (St 3,12.16). Từ đó, người nam và người nữ tìm lại con đường đến với nhau chỉ trong điều kiện tình yêu của họ được giải thoát khỏi những hậu quả của tội nguyên tổ qua thập giá của Chúa Kitô.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai20"></a><span style="color: #000080;">Bài 20. T</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I T</b><b>Ổ</b><b> TÔNG</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Augustinô nói: “Tôi đã tìm xem sự dữ từ đâu đến và không thấy câu giải đáp” (GLHTCG số 385). Đâu là cội nguồn của sự dữ ở bên trong và giữa chúng ta, giữa người nam và người nữ, giữa các thế hệ và các dân tộc? Augustinô đã không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này cho đến khi ngài tìm gặp được Đấng mà chỉ mình Ngài chiến thắng sự dữ: đó là Đức Kitô. Thế rồi từ đó sự chắc chắn này không bao giờ rời Augustinô, đó là Danh “Giêsu” nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu toàn thể nhân loại. Nếu đúng là Đức Giêsu đã đến và đã chết cho mọi người, thì không một người nào lại không cần đến Đức Giêsu: “Hãy đến với ta, tất cả…” (Mt 11,28).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tất cả, bao gồm trẻ thơ: “Hãy để trẻ em đến với Ta…” (Mc 10,14). Trẻ thơ cũng cần Chúa Giêsu, Ngài muốn là “Thiên Chúa cứu” của chúng, cũng là “Đấng Cứu Độ” của chúng. “Tội tổ tông” trước hết hàm ý tất cả mọi người không trừ ai đều cần Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ. “Giáo lý về tội tổ tông, có thể nói được, là ‘mặt trái’ của Tin Mừng này: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của tất cả mọi người” (GLHTCG số 389).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tội tổ tông là một mầu nhiệm đức tin; chúng ta biết về điều này chỉ qua mạc khải. Nó không thể nắm bắt chỉ qua lý trí thuần túy, mặc dù người ta có thể chứng minh rằng giáo thuyết này cung cấp một câu trả lời hữu lý đối với tính bí ẩn của sự dữ. Do đó điều quan trọng là cần biết chính xác những gì giáo huấn đức tin khẳng định về tội nguyên tổ, nhất là khi những ý niệm sai lầm về tội nguyên tổ đang lan tràn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức tin nói cho chúng ta biết, ngay từ khởi đầu của lịch sử gia đình nhân loại, những người là cha mẹ đầu tiên của chúng ta đã lạm dụng sự tự do của mình, tự nâng mình lên chống lại Thiên Chúa (số 415). Thánh Kinh sử dụng ngôn ngữ hình tượng để phác họa những hậu quả của chọn lựa đó: Adam và Evà mất đi sự gần gũi nguyên thủy đối với Thiên Chúa và chạy trốn Thiên Chúa. Một sự rối loạn nội tại và lên án lẫn nhau, thống trị và thèm muốn, những điều đó trở thành rõ ràng trong mối liên hệ giữa người nam và người nữ. Và sự chết, vốn là hậu quả đã được báo trước, nay bước vào lịch sử nhân loại (số 399-401). Những gì được trình bày trong chương 3 sách Sáng Thế cũng được chúng ta kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng tại sao lại quy chiếu về “tội tổ tông”? Tại sao một đứa trẻ lại bị vết nhơ bởi tội tổ tông ngay khi nó vừa sinh ra, đến nỗi trẻ nhỏ cũng cần chịu Phép Rửa (số 1250)? Tội tổ tông không quy chiếu về bất cứ tội cá nhân nào mà hậu duệ của bà Evà phạm. Nó hàm ý rằng tất cả mọi người (ngoại trừ Đức Trinh Nữ Maria) đang thiếu một điều gì đó: Điều mà cặp cha mẹ đầu tiên của chúng ta đã đánh mất qua tội cá nhân của họ &#8211; như một di sản mà tổ tiên đã phung phí. Họ đánh mất cho chính họ và cho cả chúng ta nữa, tức là sự gần gũi nguyên thủy với Thiên Chúa và sự hài hòa xuất phát từ sự gần gũi này (số 404). Trong một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta là hậu duệ của đứa con hoang đàng, và chỉ sau khi Thiên Chúa trao cho chúng ta “cái áo tốt nhất” của ân sủng thì chúng ta mới được bình an và bước vào nhà (Lc 15,11-32).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, “tội tổ tông” còn hàm ý, mặc dù với ân sủng của Bí tích Thánh Tẩy và với sự giúp đỡ của ân sủng, chúng ta vẫn phải chiến đấu trong suốt cuộc đời để chống lại những nghiêng chiều về sự dữ (số 407). Đó là điều mà chúng ta thừa hưởng từ nguyên tổ. Nhưng nếu chúng ta chiến đấu cùng với Đức Kitô, đó là ‘cuộc chiến đấu cao đẹp” (2Tm 4,7), chúng ta sẽ chiến thắng.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai21"></a><span style="color: #000080;">Bài 21. S</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ự</b><b> D</b><b>Ữ</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Xin giải thoát chúng con khỏi sự dữ”. Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện như thế (GLHTCG số 2850). Thế nhưng chúng ta cần được giải thoát khỏi sự dữ nào? Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta thưa: “Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mọi sự dữ”. Lời cầu xin này nói đến mọi sự dữ, cả thể lý lẫn thiêng liêng. Trong lời cầu nguyện của Hội Thánh còn kê khai rõ ràng “đói kém, dịch bệnh, chiến tranh” (số 2327).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù quan tâm nhiều đến những sự dữ này, nhưng điều được nhấn mạnh không phải là “những sự dữ” cho bằng “ác thần”: “Trong lời cầu xin này, Sự Dữ không phải là một điều trừu tượng nào đó, nhưng là một cá vị, là Satan, Ác thần, là thiên thần đã chống lại Thiên Chúa. Ma quỷ (tiếng Hi Lạp là <i>dia-bolos</i>) là “kẻ phá ngang” kế hoạch của Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài được thực hiện trong Đức Kitô” (số 2851).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Không có nơi nào ma quỷ xuất hiện rõ ràng cho bằng khi nó hiện ra cám dỗ Chúa Giêsu. Trong sự cô tịch của hoang địa, chính tên cám dỗ đã tìm cách làm cho Chúa Giêsu sa ngã như tổ tiên chúng ta đã sa ngã: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…” Tên cám dỗ đã muốn Chúa Giêsu từ bỏ thái độ hiếu thảo với Thiên Chúa (số 538). Thế nhưng nó thất bại hoàn toàn trước sự vâng phục đầy tình hiếu thảo của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Những phép lạ trừ quỷ mà Chúa Giêsu thực hiện chứng tỏ rằng cùng với Người, Nước Thiên Chúa đã khởi sự, và vương quốc của Satan bị đè bẹp: “Nếu nhờ Thần khí của Thiên Chúa mà Ta trừ quỷ thì ắt là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ngươi” (Mt 12,28).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy “Tên cám dỗ” này là ai? Thánh Kinh và Truyền Thống của Hội Thánh coi hữu thể này là một thiên thần sa ngã, gọi là Satan hay ma quỷ. Hội Thánh dạy rằng thoạt đầu đó là một thiên thần tốt lành do Thiên Chúa tạo dựng, nhưng chính nó – cùng với ma quỷ và các thần dữ khác – đã làm cho mình nên ác xấu (số 391).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúa Giêsu gọi nó là “cha sự dối trá” và “kẻ sát nhân ngay từ ban đầu” (Ga 8,44). Không nhìn nhận thực tại này, coi ma quỷ chỉ là một thứ quyền lực vô danh của cái ác, điều đó không những là ngây thơ mà còn đẩy chúng ta đến bờ vực mù lòa khi nhìn vào những vực sâu của cái ác mở ra trước mắt chúng ta trong thế kỷ này: “Hoàn cảnh bi đát như vậy của trần gian đang “nằm dưới ách thống trị của Ác thần”, làm cho đời sống con người trở thành một cuộc chiến” (số 409).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế nhưng, “quyền năng của Satan không phải là vô hạn. Nó chỉ là một thụ tạo, có quyền năng vì là thuần túy thiêng liêng, nhưng vẫn luôn là thụ tạo: nó không thể ngăn chặn công trình xây dựng Nước Thiên Chúa… Hoạt động của nó có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho mỗi người và cho xã hội, trong lãnh vực tinh thần và một cách gián tiếp, trong cả lãnh vực vật chất… Việc Thiên Chúa cho phép ma quỷ hoạt động quả là một mầu nhiệm lớn lao, nhưng “chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (số 395).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai22"></a><span style="color: #000080;">Bài 22. Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ứ</b><b>C GIÊSU KITÔ</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúa Giêsu là tâm điểm đức tin của chúng ta, bởi lẽ “dưới bầu trời này, không có Danh nào khác”, ngoài Danh Giêsu, “được ban cho loài người để nhờ đó chúng ta được cứu độ” (Cv 4,12). Vì thế, Đức Kitô là trung tâm của giáo lý. Mục đích của giáo lý là đưa con người đến sự hiệp thông với Đức Giêsu Kitô. Đức Chân phước giáo hoàng Gioan Phaolô II nói như thế (GLHTCG số 426).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu ai đó hỏi rằng điều gì làm nên một Kitô hữu, thì câu trả lời là: đó là người tin rằng Đức Giêsu Nadarét là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Niềm tin đó là đá nền trên đó Hội Thánh được xây dựng (số 424). Tin vào Chúa Giêsu Kitô có nghĩa là yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực. Yêu mến Người như chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa (Đnl 6,4-5). Điều độc đáo và đặc biệt của niềm tin Kitô giáo là tin rằng Đức Giêsu, một con người được sinh ra dưới thời hoàng đế Cêsarê Augustô và chết trên thập giá dưới thời hoàng đế Tibêriô, người ấy chính là Thiên Chúa, là Con hằng hữu của Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật và là người thật. Đó là mầu nhiệm khôn dò của đức tin Kitô giáo, “Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,11).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chỉ trong ánh sáng này chúng ta mới hiểu được tại sao tin vào Đức Kitô cũng có nghĩa là bước theo Người, và bước theo Chúa là đòi hỏi quan trọng hơn mọi cam kết khác trong đời. Làm sao một con người thuần túy mà có thể nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy; ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37)? Đòi hỏi ấy chỉ có thể đến từ Đấng là chính Thiên Chúa. Làm sao một con người mà có thể nói: “Tất cả những ai nhìn nhận Thầy trước mặt người đời thì Con Người cũng sẽ nhìn nhận họ trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa” (Lc 12,8)? Điều đó lại chẳng có nghĩa rằng ơn cứu độ vĩnh cửu tùy thuộc vào thái độ của người ta đối với Chúa Giêsu sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu chỉ nơi Chúa Giêsu mới có ơn cứu độ, nếu chỉ có Người mới là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” thì liệu có ai có thể được cứu độ mà không cần đến Chúa Giêsu? Nếu như thế, biết bao người chưa hề nghe đến Danh Chúa Giêsu, không có cơ hội để nhận biết và yêu mến Người thì sao (số 846-847)? Chính Chúa Giêsu đã trả lời cho câu hỏi này: đến giờ phán xét, Con Người sẽ tỏ cho thấy tất cả những hành động yêu thương chân chính dành cho tha nhân (Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm…), tất cả những hành động yêu thương ấy đều là cho chính Chúa: “Điều gì các ngươi đã làm cho người anh em bé mọn nhất, là làm cho chính Ta” (Mt 25; GLHTCG số 1038).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đã thế thì tại sao lại còn cần loan báo Đức Kitô nữa? Thánh Phaolô đưa ra lý do rất rõ ràng: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2Cr 5,14). Bất cứ ai được tình yêu này chiếm hữu, bất cứ ai kinh nghiệm về sự hiệp thông với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và quyền năng phục sinh của Người, thì người ấy sẽ cảm thấy nỗi ước mong loan báo về Người, rao giảng Tin Mừng của Người, và dẫn mọi người đến niềm tin vào Chúa Giêsu (số 429).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai23"></a><span style="color: #000080;">Bài 23. CON THIÊN CHÚA</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tước hiệu “Con Thiên Chúa” hàm nghĩa “mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của Chúa Giêsu Kitô với Thiên Chúa, Cha của Người. Người là Con Một của Chúa Cha và là chính Thiên Chúa. Ai muốn trở thành Kitô hữu, người ấy nhất thiết phải tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa” GLHTCG số 454).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Giêsu không phải là Con Thiên Chúa”. Nhiều người có niềm tin tôn giáo nhưng khẳng định như thế. Đối với họ, Thiên Chúa là duy nhất, và vì thế, Giêsu không thể là Thiên Chúa được. Thế nhưng chúng ta nhờ ân sủng và qua đức tin mà nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu như là Con Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã tóm tắt toàn bộ Tin Mừng trong những lời này: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới” (Gal 4,4). Và khi Phaolô nói với dân Galata về sự trở lại của ngài, thì điều ngài nhấn mạnh không phải là những biến cố bên ngoài đã xảy ra trên đường đi Damas, nhưng là sự phát triển ở bên trong: “Thiên Chúa đã tách riêng tôi ra từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Ngài. Ngài đã đoái thương mặc khải Con của Ngài cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Ngài cho các dân ngoại” (Gal 1,15-16).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều gì đã xảy ra trong tâm hồn vị tông đồ dân ngoại? Chắc chắn ngài đã nghe nói về nhân vật Giêsu Nadarét và xác tín rằng con người này là tiên tri giả, là kẻ nói phạm thượng. Chính vì thế, Saulê mới hăng say bắt bớ những người theo ông Giêsu đến thế. Nhưng rồi điều xảy ra là chính Thiên Chúa đã mặc khải cho Saulê biết nhân vật Giêsu ấy chính là Con của Ngài. Thánh Luca, đệ tử của thánh Phaolô, cũng kể lại: “Và ngay lập tức trong các hội đường, ông loan báo Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa” (Cv 9,20).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chính Chúa Giêsu đã bày tỏ bí mật thâm sâu này khi ngài kể dụ ngôn “Những tá điền bất lương”. Ông chủ vườn nho sai các tôi tớ đến gặp những tá điền để lấy phần hoa lợi. Sau khi bọn tá điền đã đánh đuổi, kể cả giết chết, tôi tớ của chủ, dụ ngôn nói về ông chủ rằng: “Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu, người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ; ông nói: Chúng sẽ nể con của ta” (Mc12,1-11). Qua nhiều thế kỷ, sau nhiều lần sai các tiên tri (những tôi tớ), Thiên Chúa đã sai chính Con của Ngài đến như vị sứ giả cuối cùng! Tình yêu Thiên Chúa không còn cách biểu lộ nào lớn lao hơn thế, cho nên thánh Phaolô kêu lên: “Đến như chính Con Một mà Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8,32).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế nhưng “tất cả mọi sự” mà Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta là gì? Thánh Phaolô nói: Thiên Chúa đã sai Con của Ngài tới để chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử, và Ngài cũng sai “Thần Khí của Con Ngài” đến ngự trong chúng ta (Gal 4,4-6). Là Kitô hữu có nghĩa là tin vào Đức Kitô, yêu mến Người, bước theo Người. Và hơn nữa, “Anh em không còn là nô lệ nhưng là con” (Gal 4,7). Nhờ Chúa Giêsu, với Người và trong Người, chúng ta trở nên những “con cái của Thiên Chúa” (Cor 6,18).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai24"></a><span style="color: #000080;">Bài 24. Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>ƯỢ</b><b>C TH</b><b>Ụ</b><b> THAI B</b><b>Ở</b><b>I QUY</b><b>Ề</b><b>N NĂNG CHÚA THÁNH TH</b><b>Ầ</b><b>N</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mỗi Chúa nhật, chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính rằng Chúa Giêsu được thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần và được Đức Trinh Nữ Maria sinh hạ. Đó là tín điều đầu tiên người Kitô hữu tuyên xưng về Chúa Giêsu. Thế nhưng không có tín điều nào bị nghi ngờ và chống đối nhiều cho bằng tín điều này. Lại chẳng phải là Tân Ước không nói nhiều lắm đến việc “thụ thai đồng trinh” này sao, chỉ có Matthêu và Luca? Và chẳng phải trình thuật này nghe cứ như chuyện thần thoại, giống như thần thoại phương Đông về các vị thần đó sao? Rất nhiều những phê phán và chống đối tương tự, không chỉ ngày nay, nhưng đã xuất hiện ngay từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo (GLHTCG số 498).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngay từ đầu, Hội Thánh đã luôn tuyên xưng đức tin vào việc thụ thai đồng trinh này. Có lẽ chỉ có cách giải thích rằng Hội Thánh tuyên xưng như thế là dựa vào truyền thống tông đồ, và truyền thống này đi ngược lại đến chính Đức Maria. Chỉ có Đức Maria mới biết được bí mật về việc thụ thai Người Con của Mẹ. Mẹ là người đầu tiên tin rằng “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không làm được” (Lc 1,37). Tiếp theo là Thánh Cả Giuse tin vào sứ điệp của thiên thần cho biết đứa trẻ trong lòng Đức Trinh Nữ Maria là “do Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cũng như nhờ đức tin, Đức Maria và Thánh Giuse đã đón nhận biến cố không thể hiểu nổi về mặt tự nhiên nhưng đã thực sự xảy ra, thì chúng ta cũng thế, chúng ta được mời gọi đón nhận mầu nhiệm này trong đức tin và bằng cả tâm hồn. Nếu chúng ta sẵn sàng làm như thế, mầu nhiệm ấy sẽ mở ra cho những suy nghĩ về lý do tại sao Thiên Chúa đã làm người bằng cách này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách Giáo Lý viết: “Những gì đức tin công giáo tin về Mẹ Maria, đều đặt nền tảng trên những gì đức tin đó tin về Đức Kitô, đồng thời những gì đức tin dạy về Mẹ Maria lại làm sáng tỏ đức tin về Đức Kitô” (số 487). Nếu chúng ta thực sự thưa “Vâng” trước mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, nếu chúng ta thực sự tin rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, thì không phải là điều gì khó khăn lắm khi tin rằng Người đã được sinh ra từ cung lòng Đức Trinh Nữ Maria.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúa Giêsu được sinh ra “không theo ý muốn của xác thịt hay ý muốn của đàn ông, nhưng từ Thiên Chúa” (Ga 1,13). Sự sinh hạ của Người ghi dấu một khởi điểm mới giữa lòng nhân loại, vốn bị nhận chìm trong một lịch sử ngập tràn tội lỗi và chết chóc. Khởi điểm mới này chỉ có thể có được do chính Thiên Chúa. Từ khi được thụ thai, Đức Kitô đã “đầy tràn Thánh Thần”, do đó toàn bộ bản tính và hoạt động của Người đều do Thánh Thần. Đức Giêsu là con người mới, khởi điểm của nhân loại mới, nhân loại được cứu chuộc. Cũng như Mẹ Maria đã thụ thai Chúa Giêsu trong đức tin, thì cũng thế, nhờ Chúa Thánh Thần, Đức Kitô nên hình nên dạng trong mỗi chúng ta: “Nhờ đón nhận Lời Thiên Chúa cách trung thành, Hội Thánh được làm Mẹ. Nhờ việc rao giảng và ban phép Rửa, Hội Thánh sinh hạ những người con được thụ thai bởi Thánh Thần” (số 503-507).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai25"></a><span style="color: #000080;">Bài 25. THIÊN CHÚA TH</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ậ</b><b>T VÀ NG</b><b>ƯỜ</b><b>I TH</b><b>Ậ</b><b>T</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong Thánh thi có lẽ là cổ xưa nhất về Đức Kitô, chúng ta tuyên xưng:<br />
<i>“Đ</i><i>ứ</i><i>c Giêsu Kitô v</i><i>ố</i><i>n dĩ là Thiên Chúa,<br />
mà không nghĩ ph</i><i>ả</i><i>i nh</i><i>ấ</i><i>t quy</i><i>ế</i><i>t duy trì đ</i><i>ị</i><i>a v</i><i>ị</i><i> ngang hàng v</i><i>ớ</i><i>i Thiên Chúa,<br />
nh</i><i>ư</i><i>ng đã hoàn toàn trút b</i><i>ỏ</i><i> vinh quang, m</i><i>ặ</i><i>c l</i><i>ấ</i><i>y thân nô l</i><i>ệ</i><i>,<br />
tr</i><i>ở</i><i> nên gi</i><i>ố</i><i>ng phàm nhân, s</i><i>ố</i><i>ng nh</i><i>ư</i><i> ng</i><i>ườ</i><i>i tr</i><i>ầ</i><i>n th</i><i>ế</i><i>”</i> (Phil 2,6-8).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngay từ thưở ban đầu, đức tin Kitô giáo luôn tuyên xưng Đức Kitô “vốn dĩ là Thiên Chúa” và đã “trở nên giống phàm nhân”. Trong dòng lịch sử, Hội Thánh đã phải thường xuyên chiến đấu để bảo vệ sự toàn vẹn của lời tuyên xưng này. Khi này khi khác, vẫn có những cám dỗ chối từ hoặc nhân tính hoặc thần tính nơi Đức Giêsu Kitô (GLHTCG số 465-468).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nổi bật nhất là Công Đồng Chalcêđônia năm 451 đã tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là “Thiên Chúa thật và là người thật,…một Đấng duy nhất…trong hai bản tính một cách không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt”. Đây là một mầu nhiệm khôn dò và tạo âm hưởng vô cùng lớn lao, nhất là khi chúng ta chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu trong ánh sáng của mầu nhiệm này. Tất cả những gì Chúa Giêsu nói và làm và đau khổ đều mang cả hai tính chất thần linh và nhân linh. “Con Thiên Chúa đã làm việc với đôi tay nhân loại, suy nghĩ bằng trí óc nhân loại, hành động theo ý chí nhân loại, yêu mến bằng quả tim nhân loại. Sinh làm con Đức Trinh Nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi” (số 470).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phải hiểu làm sao về Đấng là Thiên Chúa thật và cũng là người thật? Phải chăng Người biết hết mọi sự và làm được mọi sự? Phải chăng Người cũng đau khổ như chúng ta? Sách Tin Mừng nói với chúng ta rằng trẻ Giêsu “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). Như thế, Chúa Giêsu đã phải học tập nhiều trong cuộc sống làm người. Đàng khác, Chúa Giêsu lại có một phong thái đặc biệt. Lời giảng dạy của Người mang sức mạnh thuyết phục: “Chưa từng thấy ai nói như người này” (Ga 7,46). Chúa Giêsu biết rõ tư tưởng của người khác: “Người biết có gì trong lòng con người” (Ga 2,25). Người biết họ nghĩ gì ngay cả trước khi họ gặp Người, như trong trường hợp của Nathanael (Ga 1,49). Ba lần, Người báo trước cho các môn đệ về cuộc Thương khó và Phục sinh của Người. Nhất là ngay từ thời niên thiếu, Người đã ý thức rất rõ về sự kết hợp giữa Người với Chúa Cha: “Cha mẹ không biết rằng con phải ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy Chúa Giêsu có thể làm được mọi sự? Nếu chúng ta tin vào chứng từ của Kinh Thánh, thì cùng với các môn đệ, chúng ta phải ngạc nhiên: “Ông này là ai mà truyền lệnh cho cả gió và biển khơi, và chúng phải tuân lệnh?” (Lc 8,25). Người làm rất nhiều phép lạ: chữa lành mọi bệnh tật, kể cả người mù từ thuở mới sinh, hóa bánh ra nhiều, cho kẻ chết sống lại, và nhất là tha thứ tội lỗi (Mc 2,7). Những hành động này minh chứng rằng Chúa Giêsu đã không chỉ hành động với sức mạnh tự nhiên của con người, nhưng với quyền năng của Đấng là Thiên Chúa thật và là người thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đặc tính thần-nhân ấy nơi Chúa Giêsu vẫn tiếp tục thể hiện, đặc biệt là nơi Trái Tim cực thánh của Người: “Con Thiên Chúa đã yêu mến tất cả chúng ta bằng một quả tim nhân loại. Do đó, Trái Tim cực thánh của Chúa Giêsu, bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta và để cứu độ chúng ta, được coi là dấu chỉ và biểu tượng đặc biệt của tình yêu” (số 478). Chính với Trái Tim ấy, Chúa Giêsu “đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gal 2,20).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai26"></a><span style="color: #000080;">Bài 26. CU</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>C Đ</b><b>Ờ</b><b>I CHÚA GIÊSU</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong suốt năm, Hội Thánh cử hành toàn bộ các biến cố trong cuộc đời Chúa Giêsu, từ lễ Truyền Tin (ngày 25 tháng 3) đến Lễ Chúa Thăng Thiên. Những cử hành phụng vụ này không chỉ đơn thuần là sự tưởng nhớ nhưng còn mang một tầm vóc lớn lao và sâu sắc hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đúng là Chúa Giêsu đã sống vào một thời điểm nhất định trong lịch sử, khi Augustô là hoàng đế Rôma. Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời tổng trấn Phongxiô Philatô. Tất cả những sự kiện này đã thuộc về quá khứ, và chúng ta có thể nhớ lại những sự kiện đó cũng như nhớ lại những biến cố khác trong quá khứ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế nhưng việc tưởng nhớ này mang một ý nghĩa khác khi nói về Chúa Giêsu. Bởi lẽ chúng ta tin và tuyên xưng rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, cho nên toàn bộ đời sống của Người mang tính chất “thần-nhân”. Tất cả những gì Người đã nói, đã làm, đã đau khổ – từ khi sinh ra ở Bêlem đến lúc phục sinh ở Giêrusalem – tất cả đều mang tính độc đáo duy nhất: đây không chỉ là cuộc sống chóng qua của một con người, nhưng là đời sống trên trần thế của Đấng là Con vĩnh cửu của Chúa Cha.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách Giáo Lý dành cả một phần dài để nói về “Những mầu nhiệm của cuộc đời Đức Kitô” (số 512-560). Từ “mầu nhiệm” ở đây muốn nói rằng: “Từ những mảnh tã quấn thân ngày Người giáng sinh, cho đến chút giấm lúc Người chịu khổ hình, và tấm khăn liệm ngày Người phục sinh, mọi sự trong cuộc đời Chúa Giêsu đều là dấu chỉ về mầu nhiệm của Người… Những gì hữu hình trong cuộc đời trần thế của Người dẫn chúng ta đến với mầu nhiệm vô hình, là địa vị làm Con Thiên Chúa và sứ vụ cứu chuộc của Chúa Giêsu” (số 515).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nghiên cứu về cuộc đời Đức Kitô bằng những phương pháp của khoa lịch sử chắc chắn là điều đáng quý. Thật hữu ích nếu hiểu biết về lịch sử của thời đại đó, về hoàn cảnh sống ở Galilê, về những phong tục tôn giáo và tín ngưỡng của người Do Thái thời đó. Khoa khảo cổ đã đưa ra ánh sáng nhiều bằng chứng về Chúa Giêsu. Khoa nghiên cứu Kinh Thánh cũng đã góp phần lớn vào việc xây dựng chân dung lịch sử của Chúa Giêsu và môi trường sống lúc đó cách chính xác hết sức có thể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khách hành hương Thánh Địa cảm động biết bao khi tận mắt nhìn thấy mảnh đất Chúa Giêsu đã sống. Thế nhưng điều mà chúng ta phải quan tâm hơn, đó là mầu nhiệm của Đấng đã sống trên mảnh đất ấy. Khi chúng ta suy niệm về biến cố Truyền Tin ở Nadarét, hoặc nhìn thấy hội đường ở Capharnaum là nơi Chúa Giêsu giảng về Bánh hằng sống, hoặc ở Tagba và nhớ lại Chúa Giêsu đứng trên con thuyền của Phêrô mà giảng dạy… thì tất cả những sự kiện ấy đang là hiện tại. Không có gì trong cuộc đời Chúa Giêsu chỉ là quá khứ đơn thuần. Những sự kiện ấy, những biến cố ấy đang là hiện tại, vì Đấng đã trải qua những biến cố ấy là Đấng Phục Sinh, Đấng hằng sống, cả trong nhân tính của Người. “Với tất cả những gì Người đã sống và đã chịu đựng một lần cho mãi mãi vì chúng ta, giờ đây Người luôn hiện diện “trước nhan Thiên Chúa để chuyển cầu cho chúng ta” đến muôn đời” (số 519).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong sách hướng dẫn Linh Thao, thánh Inhaxiô Lôyôla khuyên chúng ta là khi suy niệm về cuộc đời Chúa Giêsu, hãy hình dung cách cụ thể nơi chốn và quang cảnh Chúa đã sống, và cố gắng đi sâu vào tâm tình, niềm vui nỗi buồn của Chúa. Phương pháp này có ích lợi vì không những giúp chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu như một mẫu mực, mà còn giúp chúng ta cùng sống với Chúa. Do đó, Sách Giáo Lý viết rằng “Đức Kitô làm cho chúng ta được sống những điều đó trong Người, và Người sống những điều đó trong chúng ta” (số 521). Trong suốt Năm Phụng Vụ, Hội Thánh cử hành phụng vụ về nhiều khía cạnh trong cuộc đời của Chúa, nhằm mục đích giúp chúng ta đạt tới sự hiệp thông trọn vẹn với Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai27"></a><span style="color: #000080;">Bài 27. CHÚA GIÊSU VÀ DÂN ISRAEL</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sau đây là một đoạn trong Sách Giáo Lý: “Chúng tôi tin và chúng tôi tuyên xưng rằng: Chúa Giêsu Nadarét, một người Do Thái sinh bởi một phụ nữ Israel tại Bêlem dưới thời vua Hêrôđê Cả và hoàng đế Cêsarê Augustô I, vốn làm nghề thợ mộc, đã chịu chết trên thập giá tại Giêrusalem, thời tổng trấn Phongxiô Philatô dưới triều hoàng đế Tibêriô, Chúa Giêsu ấy là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, đã làm người” (số 423).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúa Giêsu là người Do Thái – Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa: cả hai mệnh đề gắn bó với nhau, không thể tách lìa. Sách Giáo Lý nhấn mạnh đặc biệt mối liên hệ này. Vì Chúa Giêsu là người Do Thái cho nên cần quan tâm đến “mầu nhiệm tình yêu” mà Thiên Chúa dành cho dân tộc này trong lịch sử.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hãy bắt đầu từ việc Thiên Chúa tuyển chọn dân Isarel. Sự tuyển chọn này được khởi đi từ việc kêu gọi Abraham, qua ông, mọi dân tộc trên mặt đất được chúc phúc (số 59). Từ những hậu duệ của tổ phụ Abraham, Thiên Chúa đã hình thành dân Israel. Trên núi Sinai, Thiên Chúa mạc khải thánh ý Ngài cho họ và chỉ cho họ con đường đúng phải đi (số 62-64). Giao ước giữa Thiên Chúa và Israel “sẽ không bao giờ bị thu hồi” (số 121). Chúa Giêsu không đến để phá hủy nhưng để làm cho trọn (số 577).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi thì Ngài không hề đổi ý” (Rom 11,29). Thế nhưng người ta có thể đặt câu hỏi: Phải chăng Đức Kitô đã chẳng nhiều lần phê phán và làm ngược lại lề luật của Do Thái sao? Sách Giáo Lý cố gắng đưa ra câu trả lời rõ ràng cho những vấn nạn này (xem số 571 – 598).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Kitô sinh ra “dưới Lề luật” (Gal 4,4). Người đã sống theo luật Môsê và yêu mến Đền Thờ (như là nhà của Cha Người). Dĩ nhiên những người Do Thái tôn kính Lề Luật đã cảm thấy xúc phạm trước cách giải thích của Chúa Giêsu về ý nghĩa đích thực của Lề luật (số 581). Tuy nhiên, đối với họ, nguyên cớ gây xúc phạm nhất chính là vì Chúa Giêsu cho rằng Người có quyền tha tội (số 587): “Ai có thể tha tội ngoại trừ một mình Thiên Chúa? (Mc 2,7)? Chúa Giêsu cũng bị coi là nói phạm thượng khi Người xưng mình ngang hàng với Thiên Chúa (số 589).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chắc chắn không phải mọi người Do Thái thời bấy giờ đều ruồng bỏ Chúa Giêsu (số 595). Một phần trong giới cầm quyền lúc bấy giờ đã tố cáo Chúa Giêsu là phạm thượng, họ kết án Người trong một vụ xử án có nhiều điều không hợp luật, rồi họ trao Người cho quân Rôma hành quyết. Thế nhưng, rõ ràng là không phải mọi người Do Thái đều phải chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định rất mạnh mẽ: “Không thể quy trách nhiệm một cách không phân biệt về những tội ác người ta đã phạm trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu cho mọi người Do Thái thời đó, cũng như cho người Do Thái thời nay” (số 597).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cái chết của Chúa Giêsu “thuộc về mầu nhiệm của kế hoạch Thiên Chúa” (số 599), và đằng sau cái chết của Chúa, không chỉ là tội lỗi cá nhân của những kẻ thù nghịch, nhưng còn là tội lỗi của tất cả chúng ta: “Mọi tội nhân đều là tác giả của những cực hình mà Đức Kitô đã phải chịu” (số 598). Tất cả chúng ta đã đóng đinh Người vì tội lỗi của chúng ta: “Ma quỷ cũng không đóng đinh Người vào thập giá, nhưng chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người, và bạn còn tiếp tục đóng đinh Người bằng cách hưởng lạc thú trong những nết xấu và tội lỗi” (Thánh Phanxicô Assisi).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai28"></a><span style="color: #000080;">Bài 28. Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ứ</b><b>C KITÔ CH</b><b>Ế</b><b>T VÌ CHÚNG TA</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Kitô không chịu khổ nạn cho” (GLHTCG số 605). Hội Thánh tuyên xưng như thế và đây là một yếu tố trung tâm của đức tin Kitô giáo. Đức Kitô đã không chết cách tình cờ, cái chết của Người không phải là một tai nạn bi thảm hoặc một sự kiện ngẫu nhiên. Cái chết đó thuộc về kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ngài cho phép xảy ra những hành vi xuất phát từ sự mù quáng của con người để hoàn thành kế hoạch cứu độ của Ngài (số 600).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta tin rằng động lực thúc đẩy Thiên Chúa sai Con của Ngài đến trần gian là “vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi”. Chúng ta tuyên xưng như thế trong Kinh Tin Kính. Chúa Giêsu đã không đến để sống cho bản thân Người. Thiên Chúa làm người “không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Toàn bộ cuộc sống của Chúa Giêsu được xác định bởi mục đích vĩ đại: cứu độ nhân loại. Đây là Phép Rửa mà Người khao khát (Lc 12,50): hiến dâng mạng sống để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Không có cách giải thích nào khác về nỗi khát khao này ngoài tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu mà Chúa Giêsu coi như của chính Người: “Tình yêu cốt tại điều này: không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài yêu thương chúng ta trước và đã sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Giao hòa, Cứu độ, Đền tội, Chuộc tội, tất cả những từ ngữ này trong Kinh Thánh đều xoay quanh mầu nhiệm vĩ đại này của đức tin, đó là “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh” (1Cor 15,3). Vào buổi chiều ngày trước khi chịu chết, Chúa Giêsu đã vén mở bí mật thâm sâu trong trái tim Người cho nhóm nhỏ các môn đệ thân tín. Trong bữa tiệc hôm ấy, Người bẻ bánh, trao cho họ và nói: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em”. Người cầm lấy chén rượu, trao cho họ và nói: “Này là Chén Máu Thầy, Máu Giao Ước mới và vĩnh cửu sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được tha tội”. Như thế Chúa Giêsu cho các môn đệ và tất cả chúng ta thấy Người tự nguyện tiến đến cái chết, Người trao ban chính Mình Người cho chúng ta. Bánh và rượu đã trở nên Mình và Máu Người. Điều Người thực hiện trên thập giá và qua cái chết của Người, đã diễn ra ngay tại Bữa Tiệc Ly, và kể từ lúc ấy, trong mọi cử hành Thánh Thể, Chúa Giêsu đều trao ban chính mình Người cho chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cái chết của Chúa Giêsu là một hy lễ, một hy lễ tuyệt hảo (số 613). Hy lễ ấy tuyệt hảo vì là hy lễ của tình yêu: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15,13). Chỉ có tình yêu mới có thể giao hòa thực sự. Bằng tình yêu vô tận, Chúa Giêsu đền thay cho “sự thiếu vắng tình yêu” trong mọi tội lỗi của chúng ta. Tình yêu vô tận ấy chỉ có được nơi Chúa Giêsu: “Không một ai, dù là người thánh thiện nhất, có khả năng mang lấy trên mình tội lỗi của mọi người và hiến mình làm hy lễ vì mọi người. Nơi Đức Kitô, sự hiện hữu của Ngôi Vị Chúa Con vừa vượt hẳn vừa bao gồm tất cả các nhân vị, khiến cho Đức Kitô là Đầu của toàn thể nhân loại, và làm cho hy tế của Người có giá trị cứu chuộc tất cả mọi người” (số 616).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai29"></a><span style="color: #000080;">Bài 29. NG</span></b><span style="color: #000080;"><b>ƯỜ</b><b>I ĐÃ S</b><b>Ố</b><b>NG L</b><b>Ạ</b><b>I</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Nếu Đức Kitô đã không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cor 15,14). Những gì thánh Phaolô nói với dân thành Côrintô ngày xưa vẫn có giá trị cho ngày nay: “Nếu chúng ta đặt hi vọng vào Đức Kitô chỉ vì những sự đời này, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hại nhất trong thiên hạ” (15,19).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức tin của chúng ta sẽ không có nền tảng nếu Đức Kitô chết mà không sống lại. Nếu Đức Kitô vẫn còn ở trong sự chết thì thập giá của Người quả là vô nghĩa và chẳng cứu độ được ai. Nếu Đức Kitô không sống lại thì tình yêu của chúng ta chỉ hướng về một xác chết, và đức tin chỉ là sự hoài tưởng một con người đã hoàn toàn thuộc về quá khứ chứ không phải là Đấng đã phán: “Này đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Niềm hi vọng của chúng ta khi đó sẽ chỉ là cuộc đời này và người ta sẽ bảo nhau: “Cứ ăn cứ uống đi, rồi ngày mai sẽ chết thôi” (1Cor 15,32).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1Cor 15,20). Mầu nhiệm Vượt Qua &#8211; sự chết và Phục sinh của Chúa Giêsu &#8211; là yếu tố trung tâm của đức tin Kitô giáo (GLHTCG số 638). Cũng như Chúa Giêsu đã thực sự chịu chết, thì Người cũng đã sống lại thực sự. Đấng Phục Sinh đã hiện ra, dĩ nhiên là chỉ cho những chứng nhân được tuyển chọn. Tuy nhiên sự Phục sinh của Chúa là một biến cố để lại những dấu vết xác thực về mặt lịch sử.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trước hết là ngôi mộ trống (số 640). Các môn đệ của Chúa Giêsu đã không thể nào loan báo về sự phục sinh của Chúa nếu xác của Người vẫn còn đó trong ngôi mộ. Thế nhưng thực tế là ngôi mộ ấy đã trống và mọi người đều biết. Dĩ nhiên ở tự nó, ngôi mộ trống chưa phải là bằng chứng thuyết phục rằng Người đã sống lại, bởi lẽ người ta có thể giải thích cách khác: xác của Chúa Giêsu đã được đem đi nơi khác (x. Mt 28,15; Ga 20,13-15).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chỉ nhờ những lần Đấng Phục Sinh hiện ra với các môn đệ của Người thì lý do về ngôi mộ trống mới trở nên rõ ràng: “Người không còn ở đây nữa, nhưng đã sống lại” (Lc 24,6). Các chứng nhân về những lần Chúa hiện ra – dù có những khác biệt trong tường thuật – nhưng đều khẳng định rằng Chúa hiện ra với họ với thân xác cụ thể, nhìn thấy được, và họ nhận ra Người nhờ những dấu đinh trên thân thể (Ga 20,27). Đồng thời họ xác quyết rằng thân xác của Đức Kitô không phải là thân xác đã chết nay hồi sinh (số 645-646). Qua những lần Chúa hiện ra, chúng ta cũng có thể hiểu được phần nào về thân xác vinh quang mà một ngày kia chúng ta có được khi Thiên Chúa cho kẻ chết sống lại (số 999).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Kitô đã sống lại thật! Sự chắc chắn này của đức tin là nền tảng cho niềm hi vọng của chúng ta. Sự sống lại ấy khẳng định rằng Chúa Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa (số 653), những lời giảng dạy của Người là chân lý đáng tin, Người có quyền tha tội, Người đã chết cho chúng ta. Vì Đức Kitô đã sống lại nên Người vẫn hiện diện trong Lời của Người, trong sự hiệp thông của Hội Thánh, nơi người nghèo và người đau khổ, trong các bí tích, nơi các linh mục, và trên hết mọi sự, “trong bí tích Thánh Thể” (số 1373). “Đức Kitô ở trong anh em: niềm hi vọng vinh quang” (Col 1,27).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai30"></a><span style="color: #000080;">Bài 30. NG</span></b><span style="color: #000080;"><b>ƯỜ</b><b>I L</b><b>Ạ</b><b>I Đ</b><b>Ế</b><b>N TRONG VINH QUANG</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Kitô sẽ trở lại. Chính Người đã hứa như thế và đó là niềm hi vọng của các Kitô hữu ngay từ thưở ban đầu. Các thiên thần nói với các tông đồ trong ngày Chúa Giêsu lên trời: “Chúa Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông thấy Người lên trời” (Cv 1,11). Chính Chúa Giêsu bắt đầu dụ ngôn về Ngày phán xét chung bằng những lời này: “Khi Con Người ngự đến trong vinh quang, có các thiên thần hầu cận…” (Mt 25,31-46).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”, đây là lời cầu khẩn khép lại sách Khải Huyền và toàn bộ Kinh Thánh. Trước đó là lời đoan quyết của Chúa Giêsu: “Phải, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến” (Kh 22,20). Cộng đoàn Kitô hữu đáp lại lời hứa ấy bằng tâm tình cầu khẩn: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”. Đặc biệt là khi cử hành Thánh Thể, chúng ta tuyên xưng Chúa chịu chết và sống lại cho tới khi Chúa lại đến (GLHTCG số 1403). Trong Kinh Lạy Cha cũng thế, chúng ta xin “Nước Cha trị đến”, nghĩa là xin Đức Kitô ngự đến và cùng với Người là Vương quốc của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy khi nào Chúa đến? Quả thật, các Kitô hữu đầu tiên đã nghĩ rằng Ngày Chúa đến đã gần kề (x. 1Thes 4,15). Dù vậy, chưa bao giờ họ đưa ra một thời điểm xác định. Chính Chúa Giêsu đã trách mắng sự tò mò của các môn đệ về vấn đề này: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Cv 1,7). Ở một nơi khác, Người dạy: “Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi” (Mc 13,32). Do đó đừng vội tin vào những thứ chẩn đoán hay tiên tri về ngày tận thế. Đức Kitô có thể ngự đến bất cứ lúc nào, do đó đây là thời gian của mong đợi và tỉnh thức (số 672).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên Sách Giáo Lý nói đến những dấu chỉ: “Theo Chúa Giêsu, thời gian hiện tại là thời gian của Thần Khí và của việc làm chứng, nhưng cũng là thời gian được ghi dấu bằng những khó khăn và thử thách của sự dữ. Những khó khăn thử thách ấy không buông tha Hội Thánh và tạo ra cuộc chiến của những ngày sau cùng” (số 672). “Trước khi Đức Kitô ngự đến lần thứ hai, Hội Thánh phải trải qua một cuộc thử thách cuối cùng, làm lung lạc đức tin của nhiều tín hữu. Sự bách hại, vốn luôn đi theo Hội Thánh trên đường lữ thứ trần gian, sẽ làm lộ rõ “mầu nhiệm sự dữ” dưới hình thức một sự đánh lừa tôn giáo, có vẻ như mang đến cho người ta một giải pháp về các vấn đề của họ, nhưng giá phải trả là sự chối bỏ chân lý” (số 675).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Kinh nói đến tên “Phản-Kitô” và những cám dỗ của nó làm cho nhiều người ra mù tối. Do đó quyền lực của sự dữ xem ra thắng thế và đè bẹp Đạo thánh: “Sự đánh lừa về tôn giáo ở mức cao nhất là của tên Phản-Kitô, nghĩa là của một thứ chủ nghĩa Mêsia giả hiệu, trong đó con người tự tôn vinh chính mình thay vì tôn vinh Thiên Chúa và Đấng Kitô của Ngài đã đến trong xác phàm” (số 675).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế nhưng người Kitô hữu xác tín rằng “Đức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rom 14,9). Người là Chúa của tất cả vũ trụ và lịch sử. Vương quốc của Người đã bắt đầu trên trái đất này, và Hội Thánh là “hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Trời nơi trần thế” (số 669). Chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa trên sự dữ sẽ diễn ra dưới hình thức Cuộc Phán Xét cuối cùng, cuộc chung thẩm. Và ngay hôm nay, người Kitô hữu bước đi trong ánh sáng cuộc chung thẩm ấy.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai31"></a>Bài 31. TÔI TIN KÍNH CHÚA THÁNH TH</b><b>Ầ</b><b>N</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Để được hiệp thông với Đức Kitô, trước hết cần phải được Chúa Thánh Thần đánh động. Ngài đến với chúng ta trước và khơi dậy đức tin trong chúng ta” (GLHTCG số 683). Chúa Thánh Thần là linh hồn của đời sống Kitô hữu. Cũng như chúng ta không thể thấy linh hồn ở tự nó mà chỉ nhận biết qua những hiệu quả, thì cũng thế, Chúa Thánh Thần là Đấng ẩn giấu và chúng ta chỉ nhận biết Ngài qua những hoa quả của Thần Khí (số 687 và 1832).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Xem ra Chúa Thánh Thần là Đấng Thiên Chúa bị lãng quên, ngay cả đối với các Kitô hữu. Thế nhưng Chúa Giêsu cho thấy tầm quan trọng của Ngài: “Thầy đi thì có ích cho anh em, vì nếu Thầy không đi thì Đấng Bầu Chữa sẽ không đến với anh em, còn nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Ngài đến với anh em” (Ga 16,7). Trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em sẽ lãnh nhận quyền năng của Thánh Thần ngự xuống trên anh em, và anh em sẽ là những chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Như thế chúng ta đang sống trong thời đại của Chúa Thánh Thần, Ngài là Đấng Bảo Trợ, Đấng Bầu Chữa khác, sẽ ở với chúng ta mãi mãi (Ga 14,16). Qua Ngài, Đức Kitô hiện diện giữa chúng ta. Nhờ Ngài, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là “Abba – Cha ơi”. Sách Giáo Lý nói đến bốn hoạt động đặc biệt của Chúa Thánh Thần (x. số 737, 1092).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trước hết, Ngài <b>chu</b><b>ẩ</b><b>n b</b><b>ị</b> cho con người đến gặp Đức Kitô. Ngay từ thuở đầu tạo dựng, là Thần Khí ban sự sống, Ngài đã hoạt động trong toàn thể tạo thành. Trong lịch sử lâu dài của Dân Chúa trong Cựu Ước, Ngài chuẩn bị cho họ đón nhận Đấng Cứu Thế. Ngày nay cũng thế, Ngài mở rộng tâm hồn các tín hữu để họ đón nhận Đức Kitô (số 1098).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Kế đến, Ngài <b>bi</b><b>ể</b><b>u l</b><b>ộ</b> Đức Kitô cho mọi người: “Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà không do Thánh Thần” (1Cor 12,3). Chúa Thánh Thần giúp chúng ta nhận biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống. Ngài nhắc cho Hội Thánh nhớ mọi điều Chúa Giêsu đã làm và đã dạy: “Thánh Thần là ký ức sống động của Hội Thánh” (số 1099).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tiếp theo, Ngài <b>làm cho Đ</b><b>ứ</b><b>c Kitô hi</b><b>ệ</b><b>n di</b><b>ệ</b><b>n</b>. Trong đời sống của Hội Thánh, Chúa Giêsu không chỉ được nhớ đến như một hoài niệm nhưng còn thực sự hiện diện trong Lời Chúa, trong những người anh em bé mọn, trong các bí tích. Đặc biệt là sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, ở đó, bánh và rượu được biến thể thành Mình và Máu Chúa Kitô, nhờ quyền năng của Thánh Thần (số 1107).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cuối cùng, Chúa Thánh Thần <b>k</b><b>ế</b><b>t h</b><b>ợ</b><b>p</b> chúng ta với Đức Kitô. Cũng như Chúa Thánh Thần là mối dây yêu thương giữa Chúa Cha và Chúa Con, thì Ngài cũng nối kết tất cả chúng ta với Đức Kitô. Ngài như nhựa sống trong cây nho, mang lại hoa trái nơi các ngành nho (số 1108). Ngài là “vị Thầy nội tâm của đời sống theo Đức Kitô, người khách trọ dịu hiền và người bạn linh hứng, hướng dẫn, sửa chữa và củng cố đời sống này” (số 1697). Vì thế chúng ta phải khẩn xin mỗi ngày: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến”.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai32"></a><span style="color: #000080;">Bài 32. TÔI TIN H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I THÁNH</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong bản La tinh của Kinh Tin Kính, có một sự thay đổi ý nghĩa rất tinh tế và khó dịch sang tiếng Việt. Bản La tinh viết: <i>Credo in Deum</i> (Tôi tin vào Thiên Chúa); <i>et in Jesum Christum</i> (vào Đức Giêsu Kitô); <i>Credo in Spiritum Sanctum</i> (Tôi tin vào Chúa Thánh Thần). Rồi trong những phần sau đó, không còn phải là “tôi tin vào” mà chỉ đơn giản là “tôi tin”: “<i>Credo sanctam Ecclesiam catholicam</i>” tôi tin Hội Thánh công giáo, các thánh cùng thông công, ơn tha thứ tội loãi, xác sống lại, sự sống đời đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sự khác biệt lớn ở đây là chúng ta tin <i>vào</i> Chúa Cha, vào Đức Giêsu Kitô, vào Chúa Thánh Thần, nhưng chúng ta không tin <i>vào </i>Hội Thánh. Đức tin, theo nghĩa chặt của từ ngữ này, chỉ dành cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng mà chúng ta trao hiến chính mình với hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn. Chúng ta không tin vào các thụ tạo, kể cả Hội Thánh, theo nghĩa này (GLHTCG số 150-152). “Ơn cứu độ đến từ một mình Thiên Chúa mà thôi, nhưng bởi vì chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin nhờ Hội Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta: Chúng tôi tin Hội Thánh như người mẹ cho chúng tôi được tái sinh, chứ chúng tôi không tin vào Hội Thánh như là tác giả của ơn cứu độ” (số 169). Đó là lý do tại sao trong Kinh Tin Kính của các tông đồ, chúng ta tuyên xưng “Tôi tin có Hội Thánh” chứ không phải “Tôi tin vào Hội Thánh”. Như thế để “không lẫn lộn Thiên Chúa với các công trình của Ngài, và để chúng ta quy gán rõ ràng về lòng nhân hậu của Chúa tất cả mọi hồng ân Ngài đã đặt vào Hội Thánh của Ngài” (số 750).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khẳng định đầu tiên của Công đồng Vaticanô II về Hội Thánh cũng đi theo hướng này: “Đức Kitô là ánh sáng muôn dân, và vì thế, Thánh Công đồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước chiếu giãi trên mọi người ánh sáng của Đức Kitô, phản chiếu trên dung nhan Hội Thánh, bằng việc rao truyền Tin Mừng cho mọi thụ tạo”. Sách Giáo Lý giải thích rằng: Hội Thánh không có ánh sáng nào khác ngoài Chúa Kitô. Có thể so sánh Hội Thánh như mặt trăng, mọi ánh sáng của nó đều là phản chiếu ánh sáng mặt trời (số 748).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phải không ngừng suy nghĩ về điều này: Hội Thánh hoàn toàn lệ thuộc vào nguồn mạch sâu xa của mình là Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu Hội Thánh chỉ là một cơ chế nhân loại thuần túy, cơ chế ấy đã không thể đứng vững trước bao sóng gió, cũng không thể thường xuyên canh tân và đổi mới (số 175). Trong số những biểu tượng và hình ảnh được dùng để trình bày về Hội Thánh, những hình ảnh quan trọng nhất đều diễn tả sự lệ thuộc sâu xa này: Hội Thánh là Dân Thiên Chúa, Thân Mình Đức Kitô, Đền thờ Chúa Thánh Thần (số 753-757). Hiểu như thế sẽ giúp chúng ta hiểu được căn tính và sứ mạng đích thực của Hội Thánh: căn tính của Hội Thánh được khơi nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi, và sứ mạng của Hội Thánh là chiếu giãi trên mọi người ánh sáng của Đức Kitô.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai33"></a><span style="color: #000080;">Bài 33. H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I THÁNH Đ</b><b>ƯỢ</b><b>C B</b><b>Ắ</b><b>T Đ</b><b>Ầ</b><b>U NH</b><b>Ư</b><b> TH</b><b>Ế</b><b> NÀO?</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Công đồng Vaticanô II trả lời câu hỏi này không phải bằng cách kể lại những bước khởi đầu của Hội Thánh ở Giêrusalem và Galilê, nhưng bằng cách trình bày cả một viễn tượng vĩ đại về lịch sử nhân loại được khơi nguồn từ trái tim của Chúa Cha và tình yêu của Ngài (GLHTCG số 758).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Ý tưởng” về Hội Thánh đã có ngay từ trong kế hoạch của Thiên Chúa khi tạo dựng thế giới (số 760). Thế giới này không phải là sản phẩm của mù quáng hay may rủi, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng và mong muốn. Mục đích của kế hoạch ấy là “gia đình của Thiên Chúa”, trong đó mọi thụ tạo được kết hợp với Đấng Tạo Hóa. Vì tội lỗi đã hủy hoại sự hiệp thông này và gieo rắc bất hòa, thù hận, chết chóc vào trong thế giới, nên Thiên Chúa phải quy tụ gia đình của Ngài lại (số 761): từ một con người là Abraham rồi từ một dân là Israel; qua đó mọi dân được chúc phúc và quy tụ lại (số 762). Chính vì thế Cựu Ước được nhìn như tiền-sử của Hội Thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhiều khi người ta nêu câu hỏi: Có thực sự Chúa Giêsu muốn lập Hội Thánh không? Công đồng đã đưa ra câu trả lời: “Chúa Giêsu đã khai mạc Hội Thánh của Người bằng việc rao giảng Tin Mừng, nghĩa là rao giảng Nước Thiên Chúa ngự đến, Nước đã được hứa trong Thánh Kinh từ nhiều thế kỷ” (số 763). Nước Thiên Chúa bắt đầu với chính Đức Kitô; Nước ấy hiện diện nơi Đức Kitô và nơi lời nói, việc làm của Người. Đồng thời, ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã quy tụ người ta lại chung quanh Người để tạo thành một gia đình. Và Thiên Chúa trao phó Nước Thiên Chúa cho “đoàn chiên nhỏ bé” này (Lc 12,32). Đó là lý do tại sao Công đồng nói Hội Thánh trên trần gian là “hạt mầm và khởi điểm của Vương quốc” (số 768).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngoài ra, Chúa Giêsu cũng tạo cho “gia đình của Người” một cấu trúc: một lối sống thể hiện qua Tám Mối Phúc, lời cầu nguyện là Kinh Lạy Cha, vai trò lãnh đạo của Nhóm Mười Hai cũng được gọi là các tông đồ. Cho nên hiển nhiên là Chúa Giêsu muốn và đã thiết lập Hội Thánh (số 765). Hội Thánh ấy không chỉ đơn thuần là một ý tưởng nhưng là một thực tại sinh động trong lịch sử, dưới sự lãnh đạo của những người kế vị thánh Phêrô và các tông đồ khác (số 816).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, mầu nhiệm Hội Thánh là ở chỗ vị sáng lập Hội Thánh không chỉ là một con người vĩ đại mà là Đấng Phục Sinh, Đấng đang sống: “Này đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Đấng Phục Sinh sống trong Hội Thánh nhờ Thánh Thần của Người (số 767). Chúa Thánh Thần là “Đấng ban sự sống”, là “linh hồn của Hội Thánh” (số 797). Mọi hoạt động tốt đẹp của Hội Thánh đều được khơi nguồn từ Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tầm nhìn trên giúp chúng ta thấy Hội Thánh cũng mênh mông như lịch sử nhân loại: được dự trù trong kế hoạch tạo dựng của Thiên Chúa, được chuẩn bị trong Cựu Ước, được Chúa Kitô thiết lập và được Chúa Thánh Thần linh hoạt. Hội Thánh ấy đang trên đường hành hương và chỉ đạt đến mức thành toàn khi tất cả những người được chọn cùng quy tụ trong gia đình của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai34"></a><span style="color: #000080;">Bài 34. DÂN THIÊN CHÚA</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Phaolô VI từng nói rằng “Hội Thánh là kế hoạch hữu hình của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại” (GLHTCG số 776). Cho nên Hội Thánh là sự thực hiện kế hoạch ấy trong dòng lịch sử nhân loại. Để diễn tả chân lý này, Công đồng Vaticanô II dùng từ “Dân Thiên Chúa” và nhiều người coi đây là điểm son của Công đồng. Chúng ta thử tìm hiểu xem nội hàm của từ ngữ này là gì, bởi lẽ từ “Dân” ở đây mang ý nghĩa rất đặc biệt, khác với “dân” khi nói đến chủng tộc, chính trị, hay văn hóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu độ người ta cách riêng rẽ từng người một, không liên kết với nhau, nhưng Ngài muốn thiết lập họ thành một Dân, là Dân nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài cách thánh thiện” (số 781). Để hiểu được bản chất đặc biệt của Dân Thiên Chúa, chúng ta phải nhớ lại tính duy nhất của nhân loại từ khởi thủy (số 360). Trong tầm nhìn của Kinh Thánh, mọi người đều liên kết với nhau vì chung một cội nguồn nơi Thiên Chúa, mọi người đều có cùng một bản tính và phẩm giá nhân loại (số 1934). Mọi người đều được trao cho trái đất này như ngôi nhà chung (số 2402). Mọi người đều hướng tới mục đích chung đã được Thiên Chúa an bài, đó là sự hiệp thông vĩnh hằng với Thiên Chúa (số 1718).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngày nay, chủ nghĩa duy cá nhân được đề cao tối đa và ghi đậm dấu ấn trên cách nghĩ và lối sống của con người, nên người ta khó cảm nhận được ý nghĩa của từ “Dân Thiên Chúa”. Chủ nghĩa cá nhân này còn len lỏi vào cả cách nghĩ và đời sống đạo của người Kitô hữu, khiến họ xem đời sống đức tin như chuyện hoàn toàn riêng tư của mình với Chúa, không liên quan gì đến cộng đoàn Hội Thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Gắn liền với tầm nhìn về Dân Thiên Chúa là cách diễn tả Hội Thánh như “bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp thông với Thiên Chúa và sự hợp nhất nhân loại” (số 775). Mọi dân tộc đều thuộc về Chúa và Chúa chẳng phải là “sở hữu riêng” của dân nào cả. Thiên Chúa tạo “dân riêng của Ngài” từ mọi dân tộc, ngôn ngữ, quốc gia. Phép Rửa làm cho một người nên thành viên của Dân Thiên Chúa. Cho nên, nói cho nghiêm túc thì chẳng có chuyện một “quốc gia Kitô giáo” hoặc “châu Âu Kitô giáo” (như ít người lầm tưởng), bởi vì người ta trở nên thành viên của Dân Thiên Chúa là nhờ đức tin, và đức tin ấy phải là đức tin cá vị của mỗi người, chứ không phải vì sinh ra theo thể lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dân Thiên Chúa không có “mảnh đất quê hương” trên trần thế này nhưng là một Dân đang trên đường hành hương hướng đến quê hương thiên quốc (số 769). Nếu chúng ta thực sự ý thức mình còn đang trên đường đi, thì chúng ta sẽ không bám víu vào những gì sẽ qua đi nhưng luôn hướng tầm nhìn đến mục đích cuối cùng. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ dễ chấp nhận những thiếu thốn trên đường và biết nâng đỡ nhau trong tư cách là thành viên của một Dân, để tất cả cùng mạnh bước đi tới Nước Thiên Chúa, “đã được chính Thiên Chúa khởi sự nơi trần thế và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Ngài hoàn tất trong ngày tận thế”.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai35"></a><span style="color: #000080;">Bài 35. H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I THÁNH LÀ THÂN TH</b><b>Ể</b><b> Đ</b><b>Ứ</b><b>C KITÔ</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thư gửi tín hữu Do Thái nói về mầu nhiệm Nhập Thể như sau: “Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (10,5-7).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Tin vào việc Nhập Thể thật của Con Thiên Chúa là dấu hiệu đặc trưng của đức tin Kitô giáo” (GLHTCG số 463). Trong những thế kỷ đầu, các lạc thuyết không phủ nhận thần tính của Đức Kitô cho bằng chối bỏ nhân tính thật của Người. Chẳng hạn, phái Ngộ Đạo cho rằng thân xác của Đức Kitô chỉ là thân xác ảo và Đức Kitô đã ra khỏi thân xác ấy trước khi chịu đóng đinh thập giá. Kể cả đến ngày nay, Hồi giáo vẫn chủ trương gần giống như thế. Xem ra thật là phiền phức: Thiên Chúa mà lại là người, Con Thiên Chúa mà lại mang thân xác nhân loại (số 465, 467)!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Qua thân xác mà Người đã đón nhận từ Đức Maria, Chúa Giêsu đã trở nên anh em của mọi người, và cách nào đó, kết hợp với từng người. Người mong ước chúng ta được nên một với Người đến mức độ không chỉ là anh em của mọi người nhưng còn hơn thế nữa, tức là chúng ta nên một Thân Mình với Chúa Giêsu, là những chi thể trong Thân Mình Người (số 521).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hội Thánh phát sinh từ sự hiệp thông này với Chúa Giêsu: “Hãy ở lại trong Thầy… và Thầy ở trong anh em” (Ga 15,4-5; GLHTCG số 787). “Sự so sánh Hội Thánh với một thân thể làm sáng tỏ mối dây liên kết mật thiết giữa Hội Thánh và Đức Kitô. Hội Thánh không chỉ được quy tụ <i>quanh Đ</i><i>ứ</i><i>c Kitô</i>, nhưng còn <i>nên m</i><i>ộ</i><i>t trong Ng</i><i>ườ</i><i>i</i>, trong Thân Thể của Người” (số 789).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Do đó, trở nên chi thể của Hội Thánh không chỉ đơn thuần là đăng ký tham gia một cộng đoàn, nhưng còn điều gì sâu xa hơn thế. Hội Thánh là Dân Thiên Chúa vì Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô. Qua bí tích Rửa Tội, chúng ta được nên một với sự chết và phục sinh của Đức Kitô, chúng ta trở nên những chi thể trong Thân Mình Người, và vì thế, nên chi thể của Hội Thánh. Qua bí tích Thánh Thể, sự hiệp thông này với Đức Kitô được kiện cường hơn nữa: chúng ta rước Mình Thánh Chúa Kitô và trở nên điều mà chúng ta lãnh nhận: Thân Thể của Chúa (số 1396).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô thì Hội Thánh không thể làm gì mà không có Đức Kitô. Người là Đầu của Hội Thánh. Chính Đức Kitô phân phối các hồng ân và thừa tác vụ trong Hội Thánh, nhờ đó chúng ta giúp đỡ lẫn nhau trên con đường cứu độ. Chính Đức Kitô kết hợp chúng ta với cuộc Vượt Qua của Người, để chúng ta cùng chịu đau khổ với Người và được tôn vinh với Người (số 793-795). Vì vậy, Đức Kitô và Hội Thánh chính là “Đức Kitô toàn thể” <i>(Christus totus)</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh nữ Jeanne d’Arc khẳng định cách đơn giản: “Về Chúa chúng ta và Hội Thánh thì tôi nghĩ cả hai chỉ là một, không phải rắc rối làm gì”.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai36"></a><span style="color: #000080;">Bài 36. H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I THÁNH DUY NH</b><b>Ấ</b><b>T</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Đây là những đặc tính thiết yếu của Hội Thánh, cho nên cần phải xem xét từng đặc tính một. Điều cần ghi nhớ trước hết là: cho dù lý trí con người có thể thấy được những đặc tính này qua chính đời sống của Hội Thánh, nhưng ý nghĩa đích thực của những đặc tính này chỉ có thể hiểu được nhờ đức tin (GLHTCG số 812).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hội Thánh có thực sự là duy nhất? Thực tế là các Kitô hữu chia rẽ nhau thành nhiều “hội thánh”, rồi ngay giữa người công giáo cũng chia rẽ nhau! Làm sao có thể nói là Hội Thánh duy nhất? Chính vì thế, cần phải tìm lại ý nghĩa “duy nhất” trong ánh sáng đức tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách Giáo Lý trình bày tính duy nhất của Hội Thánh bằng cách nhìn về cội nguồn. Mệnh lệnh của Đức Kitô “hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ” có nghĩa là Thiên Chúa muốn quy tụ một gia đình nhân loại duy nhất, vốn đã bị chia tách vì tội lỗi. Hội Thánh chính là khởi điểm của gia đình duy nhất này (số 761), và gia đình ấy sẽ được thành toàn trong Nước Thiên Chúa (số 769). Tất cả mọi người đều được kêu gọi đến sự hiệp nhất này, cho dù có những khác biệt về chủng tộc và văn hóa. Những khác biệt này không hề ngăn cản sự hiệp nhất nhưng làm cho Hội Thánh thêm phong phú (số 1201). Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng sự hiệp nhất thường xuyên bị đe dọa và con đường đi đến hiệp nhất luôn luôn là con đường nhiều gian khó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta đừng quên rằng tội nguyên tổ đã làm cho con người nghiêng chiều về sự ác, và đã tiêm một thứ “virút” vào trong thế giới (số 400-408). Mọi tội lỗi, kể cả những tội thầm kín nhất, đều làm tổn thương hoặc hủy hoại sự hiệp nhất. Như thế mới hiểu được tại sao ngay từ đầu, đã luôn có những chia rẽ lớn nhỏ trong đời sống Hội Thánh (số 817). Sự chia rẽ đầu tiên và sâu xa nhất là sự chia rẽ ngay trong dân Israel: chỉ có một phần trong dân Israel nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Do đó chúng ta hết lòng mong ước dân được tuyển chọn này sẽ đón nhận Đức Giêsu Kitô (số 674). Rồi dọc dài theo các thế kỷ, những cuộc chia tách khác lại xảy ra (Chính Thống, Thệ Phản, Anh Giáo…), đặt một gánh nặng lên vai Hội Thánh và cản trở sứ mệnh loan báo Tin Mừng (số 855).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đã thế thì “Hội Thánh duy nhất” có thực sự tồn tại không? Nhiều người cho rằng phải đợi đến tận thế thì mới có hiệp nhất. Thế nhưng Công đồng Vaticanô II khẳng định: Cho dù chúng ta không phủ nhận rằng có những yếu tố thánh thiện và chân lý ở bên ngoài Hội Thánh Công Giáo, nhưng Hội Thánh <i>duy nh</i><i>ấ</i><i>t</i> của Đức Kitô “tồn tại trong Hội Thánh Công Giáo” <i>(subsistit in)</i> (số 815). Đức Kitô đã thiết lập Hội Thánh duy nhất, và Hội Thánh ấy tồn tại nơi đâu Vị kế nhiệm Thánh Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mọi Kitô hữu đều có trách nhiệm xây dựng sự hiệp nhất bằng cầu nguyện, canh tân đời sống, hiểu biết và tôn trọng nhau, đối thoại và hợp tác (số 821).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai37"></a><span style="color: #000080;">Bài 37. H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I THÁNH THÁNH THI</b><b>Ệ</b><b>N</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đặc tính thứ hai của Hội Thánh là: thánh thiện. Nhưng phải hiểu Hội Thánh thánh thiện như thế nào? Phải chăng mọi thành viên trong Hội Thánh đều thánh thiện cả? Phải chăng Hội Thánh chẳng bao giờ lầm lỗi? Điều hiển nhiên là chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng Thánh (GLHTCG số 208). Chúng ta chỉ có thể tiếp cận sự thánh thiện nơi Hội Thánh khi chúng ta cảm nhận sự thánh thiện của Thiên Chúa. Đối diện với Thiên Chúa, con người vừa ý thức về sự nhỏ bé và tội lỗi của mình, vừa cảm nhận sự thánh thiện và gần gũi của Thiên Chúa. Đấng vô cùng vĩ đại cũng là Đấng gần gũi với loài thụ tạo (số 1502).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bất cứ cái gì được Thiên Chúa chạm đến đều trở nên “thánh” và được chữa lành. Chúng ta tuyên xưng Hội Thánh là thánh thiện vì “Đức Kitô đã yêu thương và hiến mình cho Hội Thánh, để thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh” (Eph 5, 25-26). Cũng như mọi ánh sáng trong Hội Thánh đều phát xuất từ Đức Kitô (số 748) thì sự thánh thiện nơi Hội Thánh cũng vậy. Vì thế trong Kinh Tiền Tụng 1, chúng ta cầu nguyện rằng: “Chúa được tôn vinh nơi cộng đoàn các thánh, vì khi tuyên dương công trạng của các ngài, Chúa tuyên dương chính hồng ân của Chúa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vì thế, tuyên xưng Hội Thánh thánh thiện là nhìn nhận rằng Hội Thánh “được phong phú bởi những của cải thiên quốc” (số 771). Bằng cặp mắt của Đức Kitô, chúng ta nhìn Hội Thánh như Hiền thê của Người (số 796). Hội Thánh đẹp đẽ vô cùng. Thánh Gioan mô tả Hội Thánh như Giêrusalem thiên quốc, được chuẩn bị như tân nương trang sức đón chàng rể (số 756). Trong đức tin, nếu chúng ta thấy được sự huy hoàng của Đức Kitô phản ánh trên Hội Thánh thế nào, thì chúng ta sẽ hiểu được sâu xa hơn tại sao Hội Thánh được gọi là thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vì Đức Kitô thánh hóa Hội Thánh nên Hội Thánh cũng có khả năng thánh hóa (số 824). Đây chính là mục đích của mọi hoạt động nơi Hội Thánh: gia tăng sự thánh thiện (số 2013). Mọi phương thế chữa lành được trao cho Hội Thánh cũng nhằm mục đích này: Lời Chúa, các bí tích, các đặc sủng, các chức vụ và nhiệm vụ. Công đồng Vaticanô II xem đây là trung tâm đời sống Hội Thánh: mọi người đều được kêu gọi nên thánh (số 2013). Tuy nhiên, nên nhớ rằng thước đo duy nhất của sự thánh thiện là tình yêu (số 826). Tình yêu là trái tim của Hội Thánh, ở đâu có tình yêu thì ở đó Hội Thánh nên hữu hình và hiệu quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều này cũng giúp chúng ta có cách nhìn đúng đắn khi nói đến những tội lỗi trong Hội Thánh. Không thể nói Hội Thánh là tội lỗi, nhưng nên nói Hội Thánh “ôm trong lòng mình những tội nhân”. Hội Thánh vừa thánh thiện vừa không ngừng cần được thanh tẩy, do đó mọi tín hữu đều được mời gọi “thường xuyên sám hối và đổi mới” (số 827). Ở bất cứ thời đại nào cũng thế, Hội Thánh được đổi mới là nhờ những con người sống trọn vẹn đức tin và lòng mến. Hơn bất cứ điều gì khác, Hội Thánh ngày nay cần đến những tín hữu sống thánh thiện.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai38"></a><span style="color: #000080;">Bài 38. H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I THÁNH CÔNG GIÁO</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hội Thánh “là công giáo vì Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh”. Sách GLHTCG giải thích như thế về từ “công giáo”, có nghĩa là “phổ quát” (số 830). Vì Đức Kitô đã sống lại và đang hiển trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vì Người đã hứa ở với các môn đệ mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20), nên Hội Thánh luôn luôn là công giáo. Đức Kitô là sự viên mãn, ánh sáng, sự thật và sự sống. Chỉ một mình Người là Đấng bao trùm mọi sự. Mà vì Người hiện diện trong Hội Thánh nên Hội Thánh cũng bao trùm tất cả (công giáo), dù khi chỉ có một nhóm nhỏ tín hữu quy tụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều này trở thành hiển nhiên nơi bí tích Thánh Thể vì Thánh Thể “chứa đựng mọi phúc lành thiêng liêng của Hội Thánh, nghĩa là chính Đức Kitô” (số 1324). Nơi bí tích Thánh Thể, Đức Kitô hiện diện với Mình Máu Người, với thần tính và nhân tính, với tình yêu hiến dâng trên Thập giá cho mọi người ở mọi thời (số 1374).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một lý do khác làm cho Hội Thánh được gọi là công giáo, đó là Đức Kitô đã sai Hội Thánh đến với mọi người thuộc mọi dân nước: “Hãy đi và làm cho mọi dân tộc thành môn đệ” (Mt 28,19). Do bài sai của Đức Kitô, Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo. Truyền giáo là đòi hỏi phát xuất từ đặc tính công giáo của Hội Thánh (849). Ngày nay nhiều khi từ “truyền giáo” bị hiểu lầm và bị phê phán. Phải chăng các tôn giáo khác không phải là đường dẫn đến Thiên Chúa? Tại sao Hội Thánh công giáo lại là tôn giáo duy nhất đưa con người đến ơn cứu độ? Nếu chúng ta nhìn Hội Thánh trong tương quan với Đức Kitô thì câu hỏi lập tức xuất hiện: Chẳng phải chỉ có Đức Kitô mới là Con Đường sao? Và không có ơn cứu độ nào khác ngoài Đức Kitô sao? Chúng ta phải thường xuyên quay về với lời tuyên xưng nguyên thủy: “Dưới bầu trời này”, ngoài Danh Chúa Giêsu, “không có danh nào khác được ban cho, để nhờ đó con người được cứu độ” (Cv 4,12).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chính vì thế chúng ta tin rằng tất cả mọi người đều được kêu gọi đến sự hiệp thông với Đức Kitô (số 836), và Hội Thánh là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (số 849). Các giáo phụ dùng hình ảnh cụ thể để diễn tả điều này: Hội Thánh là con tàu ông Nôê. Chỉ trong và qua Hội Thánh, con người mới được cứu thoát (số 845). Hình ảnh này trước hết là lời cảnh báo cho những ai ở trong Hội Thánh: nếu bạn nhảy lên con thuyền Hội Thánh với ý nghĩ rằng có thể tự cứu mình mà không cần đến Đức Kitô, bạn sẽ chìm! Còn “những người không biết đến Tin Mừng của Đức Kitô và Hội Thánh Người, mà không do lỗi của họ, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa… thì họ có thể đạt đến ơn cứu độ muôn đời” (số 847).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đã thế thì tại sao còn phải truyền giáo? Thưa là vì Đức Kitô và vì phần ích của mọi người. Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (1Tim 2,4). Đức Kitô và Tin Mừng của Người là chân lý cứu độ. Vì thế người Kitô hữu tha thiết giới thiệu Đức Kitô cho mọi người: “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi” (2Cor 5,14).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai39"></a><span style="color: #000080;">Bài 39. H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I THÁNH TÔNG TRUY</b><b>Ề</b><b>N</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đặc tính thứ tư của Hội Thánh là tông truyền. Dịch sát nghĩa là “được sai đi”. Vào buổi chiều Phục Sinh, Chúa nói với các môn đệ: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Qua các môn đệ của Người, Đấng Phục Sinh tiếp tục hoạt động cho tới khi Người lại đến (GLHTCG số 669). Do đó, cũng như việc truyền giáo, “làm tông đồ” là đòi hỏi thuộc về bản chất của Hội Thánh. Theo Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân, việc tông đồ là tất cả những hoạt động nào hướng tới mục đích của Hội Thánh: trải rộng vương quốc Đức Kitô trên toàn thế giới để mọi người được chia sẻ ơn cứu độ (số 863).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những người đầu tiên được Chúa Giêsu sai đi là các môn đệ của Người, nhóm Mười Hai, cũng được gọi là Tông Đồ (những người được sai đi). Hội Thánh đã và mãi mãi được xây trên nền tảng các tông đồ (Eph 2,20). Hội Thánh là Hội Thánh tông truyền vì Hội Thánh vẫn tiếp tục dựa trên chứng tá và giáo huấn của các tông đồ (số 857). Lúc khởi đầu, các tông đồ truyền lại những gì các ngài đã nghe và trải nghiệm về Đức Kitô, cũng như những gì Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho các ngài hiểu. Do đó, những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu được truyền lại cho chúng ta chủ yếu là qua các tông đồ (số 126). Đời sống các ngài là tấm gương phản chiếu Chúa Giêsu, Vị Thầy đáng mến của các ngài. Các ngài cũng lập ra những cơ chế nhằm thúc đẩy sứ vụ truyền giáo, chẳng hạn lập ra các vị trưởng lão. Cuối cùng, dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, đích thân các ngài hoặc các đồ đệ của các ngài viết ra sứ điệp cứu độ của Chúa Giêsu (số 76, 106, 126).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Toàn bộ những gì các tông đồ truyền lại, bằng truyền khẩu hoặc thành văn, được gọi là “truyền thống tông đồ” (số 75). Chỉ nhờ truyền thống đó mà thôi, chúng ta mới hiểu được những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu. Do đó truyền thống tông đồ là thước đo cho sự trung thành của Hội Thánh với nguồn gốc của mình. Mọi nỗ lực canh tân đích thực trong Hội Thánh phải nhớ lại và tiếp nối truyền thống này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hội Thánh còn là tông truyền theo một nghĩa khác: “Để Tin Mừng được giữ gìn toàn vẹn và sống động mãi trong Hội Thánh, các Tông Đồ đã để lại những người kế vị là các giám mục và trao lại cho họ quyền giáo huấn của các ngài” (số 77, 860). Tất cả những gì các Tông Đồ đã loan báo, phải được tiếp tục cho tới khi Chúa ngự đến. Do đó, sứ vụ tông đồ là thành tố thiết yếu trong đời sống Hội Thánh. Trong nhiệm vụ của các Tông Đồ, dĩ nhiên có một khía cạnh không thể lưu truyền được: đó là các ngài là những chứng nhân đặc tuyển về sự phục sinh của Chúa, và là những nền móng của Hội Thánh. Tuy nhiên sứ vụ mà Đức Kitô đã ủy thác cho các Tông Đồ sẽ tồn tại mãi cho đến tận thế. Các giám mục là những người kế vị các Tông Đồ để chăm sóc đoàn chiên của Đức Kitô (số 861), sự kiện ấy nói lên một lý do khác để Hội Thánh được gọi là tông truyền.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai40"></a><span style="color: #000080;">Bài 40. PH</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ẩ</b><b>M TR</b><b>Ậ</b><b>T C</b><b>Ủ</b><b>A GIÁO H</b><b>Ộ</b><b>I</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Công đồng Vatican II và tiếp theo Sách Giáo lý đã nhìn Giáo hội trước hết trong bản chất của Giáo hội, mầu nhiệm sự sống của Giáo hội: Nguồn gốc của Giáo hội trong ý định thần linh và được hiện thực hóa dần dần trong dòng lịch sử thánh, Giáo hội được trình bày như Dân Thiên Chúa và Thân Mình Đức Kitô. Mọi điều được nói về Giáo hội và những đặc tính thiết yếu (Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền) được áp dụng cho tất cả các thành viên của Giáo hội, bao gồm những người có chức thánh và giáo dân: “Do việc họ được tái sinh trong Đức Kitô, có sự bình đẳng thật sự về phẩm giá và hành động” (số 872).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng, trong Giáo hội có những ơn gọi và bổn phận khác nhau, những bậc sống và chức năng khác nhau. Điều quan trọng duy nhất trong những khác biệt này cần được giải thích tóm tắt ở đây. Cách cụ thể, phải phân biệt giữa giáo dân, những người sống bậc tu trì, và những người có chức thánh (số 873).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sẽ thiếu sót nếu giải thích những khác biệt này thuần túy trên bình diện “chức năng”: Như mọi tổ chức lớn đều có những phân chia chức năng, vì vậy Giáo hội cũng phải có những cơ cấu phẩm trật, nhưng hơn thế, tất cả các chức năng và ơn gọi trong Giáo hội cần được nhìn trong mối liên hệ của họ với Đức Kitô, Đầu của Giáo hội. Qua bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thêm Sức, tất cả tín hữu đều chia sẻ trong sứ mệnh, trong chức tư tế của Đức Kitô. Toàn thể đời sống tín hữu trở nên duy nhất trong chức năng tư tế (số 1268; 1141), và lan rộng ân sủng Phép Rửa trong mọi lãnh vực của đời sống. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho dân của Người về điều này, Đức Kitô đã thiết lập các chức năng và ơn gọi riêng: “Chức tư tế thừa tác” (số 874; 1547).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế tại sao có thừa tác vụ trong Giáo hội? Sách Giáo lý đưa ra nhiều lý do để trả lời cho câu hỏi này (số 875-879). Lý do quan trọng nhất là: “Không ai có thể tự ban cho mình ân sủng, ân sủng phải được ban tặng. Điều này giả thiết phải có những thừa tác viên của ân sủng, được Đức Kitô ban cho quyền bính và tư cách … để hành động <i>trong c</i><i>ươ</i><i>ng v</i><i>ị</i><i> Đ</i><i>ứ</i><i>c Kitô là Đ</i><i>ầ</i><i>u</i> (in persona Christi Capitis)” (số 875). Bởi vì đây là sự ủy thác đặc biệt, nên được ban bởi một bí tích riêng: Bí tích Truyền chức thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chính Chúa đã kêu gọi và phong ban cho những người mà họ sẽ hành động với Người và qua Người: Nhóm mười hai và đứng đầu là thánh Phêrô. Đức giáo hoàng và các giám mục, dựa trên nền tảng cộng đoàn các tông đồ và các giám mục như những người kế vị các tông đồ, hình thành nên Giám mục đoàn đứng đầu là Đức giáo hoàng (số 880). Chức giám mục Roma hàm ý là “Đại diện Đức Kitô” và “mục tử của toàn thể Giáo hội” (số 882). Mỗi giám mục với sự trợ giúp của các linh mục và phó tế, là mục tử của Giáo hội địa phương (số 886; 1560). Các ngài thi hành một cách cá vị, nhân danh Đức Kitô (số 895). Vì thế, Công đồng trình bày: “Chính Chúa Giêsu Kitô, linh mục Thượng phẩm, hiện diện giữa các tín hữu qua các giám mục được các linh mục trợ giúp” (GH, số 21).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chức tư tế phẩm trật là một phần của Giáo hội. Đó không phải là bản chất của Giáo hội cũng không phải là mục tiêu, nhưng đó là một trong các phương tiện do chính Đức Kitô thiết lập để giúp cho Giáo hội thực hiện mục tiêu của mình: là Dân Thiên Chúa và Thân Mình Đức Kitô (số 1547).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai41"></a><span style="color: #000080;">Bài 41. GIÁO DÂN TRONG GIÁO H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ộ</b><b>I</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách giáo lý chỉ dành đúng bốn trang cho chủ đề về “Kitô hữu giáo dân” (số 897-913) từ hơn bảy trăm trang của sách. Người ta có thể nhận xét: cực kỳ khiêm tốn! Tuy nhiên, nhận xét đó là hiểu sai hoàn toàn khi mặc định rằng chỉ có một vài trang liên quan đến giáo dân. Vì mọi điều được nói trong sách giáo lý về đức tin và đời sống của Kitô giáo cũng áp dụng cho tất cả những người đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Do vậy, thiết nghĩ đã đủ, nếu trong phần về các “bậc sống” trong Hội thánh, có điều gì cần nói về giáo dân như phân biệt với những người có chức thánh và những người trong bậc tu trì (số 897).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nền tảng ở đây là giáo lý của Công đồng về ba nhiệm vụ trong sứ mệnh của Đức Kitô: Người được xức dầu bởi Thần Khí như tư tế, ngôn sứ và vương đế (số 783; 436). Tất cả những thành viên của Dân Thiên Chúa được chia sẻ ba chức năng của Đức Kitô, mỗi người theo như ơn gọi của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Công đồng nhấn mạnh cách đặc biệt “sứ mệnh trần thế” của giáo dân: “Vậy một cách đặc biệt, nhiệm vụ của họ là phải soi sáng và sắp xếp thế nào, để các thực tại trần gian, vốn liên kết mật thiết với họ, không ngừng được thực hiện và phát triển theo Đức Kitô” (số 898). Sứ mệnh này thuộc về Hội thánh cũng như với giáo dân: “Giáo dân là Giáo hội” (Piô XII). Như vậy, Giáo hội hiện diện bất cứ đâu họ hiện diện (số 900). “Qua giáo dân, Giáo hội là nguyên lý sống động của xã hội con người” (Piô XII).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để hiểu chức năng tư tế của giáo dân, chúng ta phải suy nghĩ về chức tư tế cộng đồng của bí tích Thánh Tẩy. Như Công đồng nói: “Nhờ chức tư tế vương giả, chúng ta tham dự vào việc dâng thánh lễ và thi hành chức tư tế đó bằng việc lãnh nhận các bí tích, cầu nguyện và tạ ơn, bằng chứng tá đời sống thánh thiện, từ bỏ mình và bác ái tích cực” (GH, số 10). Toàn thể đời sống giáo dân từ thưởng nếm sâu xa kinh nghiệm của đời sống phụng vụ đến những công việc hằng ngày, đều là thi hành chức tư tế trước Thiên Chúa và dâng chính trần gian lên Thiên Chúa (số 901). Như thế, chính đời sống chúng ta trở thành “sự chúc lành” (số 1078).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dân Thiên Chúa chia sẻ chức năng ngôn sứ của Đức Kitô trước hết qua “cảm thức siêu nhiên về đức tin” (số 785), nhờ đó “toàn thể các tín hữu… không thể sai lầm trong đức tin” (số 92). Đối với giáo dân cảm thức siêu nhiên về đức tin được tỏ hiện cách đặc biệt qua những chứng tá đời sống của họ, đồng thời qua việc nói công khai về Đức Kitô (số 905). Phúc Âm hóa là sứ mạng đối với tất cả các tín hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Kitô thực hiện quyền vương đế của Người, trước hết bằng việc ngự trị trong đời sống chúng ta: “Đối với Kitô hữu, ‘cai trị là phục vụ’ Đức Kitô” (số 786). Dân Thiên Chúa sống theo phẩm giá hoàng vương của mình, khi họ đặc biệt nhận ra trong những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh vị Vua bị đóng đinh, đội mão gai của họ, và phục vụ Người. Trong một nghĩa rộng, tất cả những dấn thân xã hội, văn hóa, chính trị của giáo dân được nuôi dưỡng bởi đức tin là tham dự vào chức năng vương đế của Đức Kitô (số 909).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Giáo dân dấn thân trong Hội thánh qua những lãnh vực phụng vụ, dạy giáo lý và quản trị (số 903; 906; 910) cũng là một phần sứ mệnh của họ. Từ Công đồng, những dấn thân này của giáo dân được gia tăng mạnh mẽ. Không thể hình dung đời sống của Hội thánh mà không có giáo dân. Do vậy, điều thúc bách hơn tất cả những gì khác của ngày nay là làm thế nào để giáo dân đạt được ý thức mới về sứ mệnh của họ: Phúc Âm hóa trong mọi lãnh vực trần thế.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai42"></a><span style="color: #000080;">Bài 42. Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ờ</b><b>I S</b><b>Ố</b><b>NG THÁNH HI</b><b>Ế</b><b>N</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Đối với câu hỏi của người thanh niên giàu có, trước hết, Chúa Giêsu trả lời: “Hãy giữ các điều răn. Khi anh ta tiếp tục hỏi, Chúa Giêsu đưa ra câu trtả lời thứ hai: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Khi người thanh niên Ai Cập tên Antôn, sống vào thế kỷ thứ ba, nghe đoạn Tin Mừng trong thánh lễ Chúa nhật, Antôn bị đánh động mạnh như thể Chúa Giêsu đang nói với anh, Antôn đã trao tất cả tài sản của mình cho người nghèo và thực hiện đời sống cô tịch trong sa mạc, khởi đầu cho đời sống ẩn tu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cũng như một cây lớn có nhiều cành (số 917), đời sống được thánh hiến cho Thiên Chúa gia tăng không ngừng với những hình thức mới. Ngày nay chúng ta cũng chứng kiến những dòng tu, tu hội đời mới hiện diện trong Hội thánh cùng với những đan viện, dòng tu, hội dòng có từ lâu đời. Bậc sống này không thể bị xem nhẹ từ bất cứ khái niệm nào về Giáo hội; vì “thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Hội thánh một cách vững bền” (số 914); “Đó là hồng ân Hội thánh đón nhận từ nơi Chúa” (số 926).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những ai được Chúa Giêsu gọi trực tiếp? Chỉ dành cho một số cá nhân nào đó hay cho mọi người? Mọi người có được gọi vào đời sống theo như “những lời khuyên Phúc Âm” (vâng phục, khó nghèo, khiết tịnh)? Các lời khuyên Phúc Âm, vốn có nhiều, được đề ra cho tất cả các môn đệ của Đức Kitô (số 915) – tuy nhiên, không phải mọi người đều cùng một cách, nhưng “chỉ những lời khuyên nào thích hợp với sự khác biệt của các nhân vị, các thời đại, các hoàn cảnh và các sức lực, như đức mến đòi hỏi” (thánh Phanxicô Salêsiô, số 1974). Tất cả được mời gọi đến đời sống đức ái hoàn hảo, nhưng không phải tất cả được gọi đi vào bậc đặc biệt của đời sống thánh hiến “được thiết lập do việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm” (số 914).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đâu là những đặc tính của ơn gọi đặc biệt này? Trước hết, “Đề nghị bước theo Đức Kitô cách gần gũi hơn, tự hiến cho Thiên Chúa đáng mến trên hết mọi sự” (số 916). Do đó bậc sống này được định rõ trọn đời để cầu nguyện: “Đời sống thánh hiến không thể tồn tại và triển nở nếu không có kinh nguyện” (số 2687).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nguyên tắc bắt chước Đức Kitô đưa đến một cách thế phục vụ đặc biệt cho Hội thánh. Có nhiều hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến: sống đan sĩ, bậc sống trinh nữ thánh hiến (cả hai hình thức này đang hồi sinh trong thời đại ngày nay), đời sống tu viện với những lời khấn công khai và các hội dòng; các tu hội đời (những thành viên vẫn ở trong thế giới, trong những công việc chuyên môn của họ, để cố gắng là men) – họ cố gắng, để một cách mật thiết hơn, được thánh hiến cho việc phục vụ Thiên Chúa và dấn thân mưu ích cho Hội thánh (số 931). Ngay cả khi họ được đưa vào đời sống hoàn toàn tách biệt, ơn gọi của họ là truyền giáo, vì phục vụ cho việc phát triển vương quốc của Thiên Chúa. Thánh Têrêsa không bao giờ rời đan viện Cát Minh ở Lisieux, ngày nay trên trời cao người là bổn mạng của các nước truyền giáo: “Tôi hiểu rằng chỉ có tình yêu khiến các chi thể của Hội thánh hoạt động, nếu Tình Yêu bị tàn lụi, thì các tông đồ sẽ không loan báo Tin Mừng nữa” (số 826).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai43"></a><span style="color: #000080;">Bài 43. S</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ự</b><b> HI</b><b>Ệ</b><b>P THÔNG C</b><b>Ủ</b><b>A CÁC THÁNH</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hội thánh hiệp thông qua Đức Kitô, với Người và trong Người. Không có gì có thể liên kết các tín hữu sâu xa hơn sự hiệp thông này. Đó là nội dung kinh Tin kính đề cập đến “sự hiệp thông của các thánh”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhiều người không biết đến nghĩa nguyên thủy của từ này. Nó hàm ý Hội thánh là sự hiệp thông trong “các ơn ban thánh” (số 948). Giữa những thành viên của Hội thánh có một sự liên đới hỗ tương: “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau; nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1Cr 12,26; số 953). Sự liên đới hỗ tương này diễn ra, trên hết, giữa Đức Kitô là Đầu và những thành phần của thân mình Người. “Hiệp thông các thánh” hàm ý rằng Đức Kitô ban những ân sủng của Người trên Hội thánh. Điều Hội thánh được tiếp nhận từ nơi Người được chia sẻ chung cho mọi thành phần: Lời, ân sủng và tình yêu của Người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Kitô ban các ân sủng cách đặc biệt qua các bí tích (số 950). Như vậy, “sự hiệp thông của các thánh” hàm ý một sự gắn bó chung giữa các tín hữu qua các bí tích, trên nền tảng của bí tích Thánh Tẩy và cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể (số 1311). Người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy kết hiệp với nhau trong sự sống mới mà họ đón nhận từ nơi Đức Kitô. Đón nhận tình yêu Đức Kitô làm cho thâm sâu hơn sự hiệp thông này. Chúng ta trở nên “một thân thể” với Đức Kitô, do đó có mối liên hệ “máu huyết” với nhau trong Đức Kitô (số 1396).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Như thế, người ta càng đau lòng vì sự chia rẽ trong Hội thánh vốn làm cho các Kitô hữu không thể tham dự chung với nhau bàn tiệc của Chúa (số 1398-1401). Thí dụ khi có những chia rẽ trong Hội thánh, hoặc tái hôn theo luật dân sự. Những giới hạn này, nếu chấp nhận trong đức tin và sự kiên nhẫn, không kéo theo bị loại trừ từ “hiệp thông các thánh”. Ngay cả khi sự gắn bó của hiệp thông là không có thể, tình yêu gắn bó chúng ta với Đức Kitô, đặc biệt một tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo (số 2448). Những gì chúng ta làm cho những anh em bé mọn nhất, chúng ta làm cho Chúa (Mt 25,40; số 678). Không ai bị loại trừ từ sự hiệp thông này với Đức Kitô, và cuối cùng, điều thiện hảo mà mỗi người đã làm, đã bỏ không làm quyết định cho ơn cứu độ của chúng ta (số 1038-1039).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">‘Hiệp thông của các thánh’ cũng cho thấy sự liên hệ của những người được gắn bó chung với nhau trong Đức Kitô. Sự hiệp thông này không ngừng lại ở ngưỡng cửa của sự chết. Những người hiện nay đã ra đi và nghỉ yên trong Đức Kitô và những người đang lữ hành trên trần thế trong đức tin hình thành sự hiệp thông duy nhất: “Thật vậy, tất cả những ai thuộc về Đức Kitô, có Thần Khí của Người, đều họp thành một Hội thánh duy nhất và liên kết với nhau trong Người” (số 954). Cũng như có một sự liên đới hỗ tương về những ích lợi thiêng liêng giữa các thành viên của thân mình Đức Kitô, những người đang sống trên trần thế, cũng như vậy có một sự hỗ tương tương tự giữa những những thành viên trên trời và trần thế của Hội thánh. Vì được gắn bó mật thiết hơn với Đức Kitô, các thánh trên trời giúp chúng ta. Họ được hiệp nhất thân tình với Đức Kitô, do đó cũng hiệp thông với chúng ta (số 956, 1370). Khi chúng ta yêu mến các thánh, tôn kính họ, điều này củng cố sự hiệp thông của chúng ta với Đức Kitô (số 957).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cuối cùng, sự “hiệp thông của các thánh” cũng bao gồm những người đã ra đi trước chúng ta nhưng vẫn cần được thanh luyện. Lời cầu nguyện của chúng ta là một sự giúp đỡ cho họ, và đến lượt họ, họ sẽ chuyển cầu cho chúng ta (số 958).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai44"></a><span style="color: #000080;">Bài 44. Đ</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ứ</b><b>C MARIA – M</b><b>Ẹ</b><b> H</b><b>Ộ</b><b>I THÁNH</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Maria là hình ảnh tóm tắt về Hội thánh. Trong đức tin, bất cứ ai mong ước được đưa đến gần mầu nhiệm Hội thánh sẽ nhìn vào Đức Maria. Công đồng và Sách Giáo lý khi trình bày về Hội thánh đều dành một chương trình bày Đức Trinh nữ Maria – Mẹ Thiên Chúa – trong mầu nhiệm Đức Kitô và trong mầu nhiệm Hội thánh (số 963-975).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Những gì đức tin Công giáo tin về Mẹ Maria, đều đặt nền tảng trên những gì đức tin đó tin về Đức Kitô, nhưng những gì đức tin dạy về Mẹ Maria, lại là, sáng tỏ đức tin vào Đức Kitô” (số 487). Đức Maria là ai để Hội thánh đi theo trong sự hiệp thông của Mẹ với Đức Kitô. Đức Maria là Mẹ của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ, do đó, Mẹ được kết hợp với tất cả những ai là “thành viên của Thân Mình Đức Kitô”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Maria là “sự thực hiện mẫu mực” của Hội thánh (số 967) được khởi sự qua đức tin của Mẹ. Trong một nghĩa nhất định, chính qua lời xin vâng của Mẹ mà Hội thánh bắt đầu. Đức Maria là gương mẫu cho đời sống đức tin và đức mến của Hội thánh. Đức tin kiên vững của Mẹ là nền móng trên đó đức tin của chúng ta tựa vào. “Chính vì đức tin này mà Đức Maria sẽ được mọi đời khen là diễm phúc” (số 148).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Maria là “mẫu gương hiện thực” của Hội thánh đi theo Đức Kitô, bởi vì Mẹ đã đi trước trong cuộc hành trình đức tin của Mẹ trên con đường dẫn đến thánh giá. Mẹ đau khổ với Con Mẹ và chính Mẹ cũng tham dự vào hy tế với Con mình. Mẹ đã xin vâng trọn vẹn xác hồn khi Con Mẹ trao ban sự sống của Người cho chúng ta. Dưới chân thánh giá, Mẹ trở thành Mẹ Hội thánh khi Đức Kitô trên thánh giá trao Mẹ cho môn đệ Người yêu mến: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,27).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Maria cũng là “điển hình” của Hội thánh qua việc hồn xác Mẹ được đưa vào trong vinh quang trời cao của Con Mẹ. Đức Maria là thành viên đầu tiên của Hội thánh đã đạt được sự hoàn hảo trọn vẹn. Trong Mẹ, Hội thánh đã đạt đến mục tiêu qua cuộc hành trình của Mẹ. Do đó, trong sự duy nhất, Mẹ cũng cộng tác trong công việc của Đức Kitô Phục Sinh – Con Mẹ. “Vì lý do đó, Mẹ là Mẹ chúng ta trong lãnh vực ân sủng” (số 968). “Chính Ngài là Mẹ ở bất cứ nơi nào Con của Mẹ là Đấng Cứu Độ, và là Đầu của Nhiệm Thể” (số 973).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Maria là Mẹ và Hội thánh cũng được gọi là Mẹ; cũng như Mẹ Maria được kêu cầu như Trạng Sư, Đấng Cứu Giúp, Đấng Phù Hộ, Đấng Trung Gian (số 969), vì thế những tước hiệu này cũng được dùng cho Hội thánh. Cũng trong khía cạnh này, Mẹ Maria là khuôn mẫu của Hội Thánh. Sẽ là một sai lầm khi nghĩ rằng hoạt động của Mẹ Maria xa rời Đức Kitô: “Nhiệm vụ làm Mẹ của Đức Maria đối với loài người &#8230; không hề làm lu mờ hay suy giảm sự trung gian duy nhất của Đức Kitô, nhưng tỏ cho thấy uy lực của sự trung gian ấy” (số 970). Như người Mẹ, mọi điều Mẹ Maria làm cho nhân loại đến từ Đức Kitô và dẫn nhân loại đến với Người. Cùng một cách hiểu như thế về vai trò làm Mẹ của Hội thánh, đó là “bí tích của ơn cứu độ” cho nhân loại (số 776). Chắc chắn có một sự khác biệt giữa Mẹ Maria và Hội thánh đang trên hành trình: “Trong khi Hội Thánh đã đạt tới sự trọn hảo không tì ố, không vết nhăn, nơi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc, thì các Kitô hữu vẫn còn phải cố gắng, để chiến thắng tội lỗi mà tiến tới trong sự thánh thiện; vì vậy, họ ngước mắt nhìn lên Mẹ: nơi Đức Mẹ, Hội thánh đã hoàn toàn thánh thiện” (số 829).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai45"></a>Bài 45. S</b><b>Ự</b><b> THA TH</b><b>Ứ</b><b> T</b><b>Ộ</b><b>I</b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chỉ mình Thiên Chúa có quyền tha tội. Các luật sĩ đã đúng khi khẳng định điều này (Mc 2,7). Bởi vì họ nhìn thấy Chúa Giêsu như một người thuần túy, nên họ cảm thấy bị xúc phạm trước lời Người nói với người bại liệt: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5). Họ không hiểu rằng, như Con Thiên Chúa, như một người được Chúa Cha sai đến, Chúa Giêsu “có “quyền tha tội” (Mc 2,10; số 1441).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để hiểu sự lớn lao của món quà ơn tha thứ tội lỗi, chúng ta phải nắm bắt tính nghiêm trọng của tội. Đồng thời, đề cập đến sự dữ về thể lý như: bệnh tật, thảm họa, hoặc mất cơ nghiệp như những điều tồi tệ nhất xảy ra cho chúng ta. Nhưng sự dữ luân lý, hoặc tội, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý (số 311). Những đau khổ thân xác và tinh thần có thể là phương thế thanh luyện chúng ta và đưa chúng ta quay hướng về Thiên Chúa (số 1501). Nếu chúng ta chấp nhận nó trong đức tin, nó trở thành sự tham dự vào Thánh giá Đức Kitô, do vậy là sự chúc lành cho người khác (số 1521-1522).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Với tội lỗi thì không như thế. Nó chia cắt con người xa lìa Thiên Chúa và xa lìa nhau. Nó bẻ gãy sự hiệp nhất nội tại của cá nhân (số 400) và xã hội (số 817). Vậy, tội là gì? “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” (Tv 51,4) Hội thánh vẫn cầu nguyện như thế với tác giả Thánh vịnh qua Thánh vịnh 51. “Muốn hiểu tội là gì, trước hết phải nhận biết mối liên hệ thâm sâu của con người với Thiên Chúa . . . chỉ khi nào nhận biết được kế hoạch của Thiên Chúa về con người, người ta mới hiểu rằng tội lỗi là lạm dụng sự tự do, vốn được Thiên Chúa ban cho các ngôi vị được tạo dựng để họ có thể yêu mến Ngài và yêu mến nhau” (số 386-387). Thánh Augustinô nói: “Tội là yêu mình đến mức khinh chê Thiên Chúa” (số 1850). Tội là nói “Tôi, Tôi, Tôi” – không Chúa, không ai khác..</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chính vì điều này mà Thiên Chúa đã sai Người Con đến thế gian. Mục tiêu của sứ mệnh Chúa Giêsu: “Bởi vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21; số 430). Đức Kitô chết vì tội chúng ta (số 601). Do vậy, ơn ban đầu tiên trong ngày Phục Sinh là: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23; số 976). Điều mà không ai có thể ban cho Hội thánh thì Chúa Giêsu đã trao cho họ vào ngày thứ nhất trong tuần Phục Sinh: thẩm quyền tha thứ tội lỗi nhân danh Người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Bí tích Rửa Tội là bí tích đầu tiên và chính yếu để tha tội: bí tích này kết hợp chúng ta với Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại và ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần” (số 985). Đó là lý do tại sao tiêu đề trong phần đức tin này được rút ra từ lời tuyên xưng trong kinh tin kính của công đồng Nicea: “có một Phép Rửa để tha tội” (số 977). Nhưng quyền năng để tha thứ tội không dừng ở đây. “Không có tội nào, dù nặng nề đến mấy, mà Hội thánh không thể tha thứ” (số 982). Đức Kitô đã chết cho tất cả mọi người không trừ một ai (số 605). Trong Hội thánh của Người, cánh cửa tha thứ vẫn mở cho tất cả những ai trải qua kinh nghiệm ăn năn vì những tội mình đã phạm và quyết tâm quay về với Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai46"></a><span style="color: #000080;">Bài 46. S</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ự</b><b> PH</b><b>Ụ</b><b>C SINH K</b><b>Ẻ</b><b> CH</b><b>Ế</b><b>T</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Trong đức tin Kitô giáo, không có việc nào bị chống đối cách mạnh mẽ, dai dẳng, quyết liệt và hăng hái cho bằng vấn đề thân xác sống lại” (GLHTCG số 996). Thánh Phaolô cũng đã trải nghiệm điều này khi ngài giảng về sự phục sinh thân xác. Những thính giả lúc ấy –những người có học thức–, đã cười nhạo ngài (Cv 17,32). Họ tin rằng sự sống vẫn tiếp nối sau khi chết, họ tin vào sự bất tử của linh hồn. Còn thân xác này, xác thịt hèn hạ này, làm sao mà sống lại được? Vậy người Kitô hữu phải giải thích thế nào về niềm hi vọng của mình vào sự phục sinh? Dựa trên nền tảng nào để cho thấy sự phục sinh thân xác là yếu tố căn bản của đức tin Kitô giáo?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nền tảng trước hết và có tính quyết định là sự Phục Sinh của Đức Kitô. Vì Đức Kitô đã sống lại, nên chúng ta hi vọng cũng được sống lại với Người. Để làm chứng cho niềm hi vọng này, người Kitô hữu có hai loại bằng chứng. Bằng chứng thứ nhất do các “thị chứng nhân” cung cấp: những người “đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10,41; GLHTCG số 995). Bằng chứng thứ hai là kinh nghiệm tôn giáo của nhiều thế hệ Kitô hữu, kinh nghiệm rằng Đấng Phục Sinh đang ở với chúng ta qua Lời của Người, qua các bí tích, các thánh, người nghèo, và Người ở trong sâu thẳm lòng ta (x. Eph 3,17).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nền tảng thứ hai là niềm tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa (số 992). “Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cừ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào thì đã chẳng dựng nên” (Khôn Ngoan, 11,24). Thiên Chúa nâng đỡ và gìn giữ công trình tạo dựng (số 301). Chắc chắn vũ trụ vật chất sẽ qua đi, và thân xác chúng ta cũng thế. Nhưng Thiên Chúa hứa ban cho chúng ta trời mới đất mới (số 1042-1050). Trong Đức Kitô, mọi sự được đổi mới. Thân xác phục sinh của Người đã là khởi điểm của công trình tạo dựng mới. Đức Maria “lên trời cả hồn lẫn xác” là ấn dấu của lời hứa: chúng ta cũng được phục sinh như thế (số 966).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sự tôn trọng thân xác (của chính mình cũng như của người khác) phát xuất từ niềm tin vào sự phục sinh (số 364). Thân xác này, vốn là đền thờ của Chúa Thánh Thần và được Mình Máu Thánh Đức Kitô nuôi dưỡng, phải được bảo vệ khỏi mọi thứ lạm dụng, và giữ gìn thánh thiện (số 2289, 2297). Trong nghi thức an táng, Hội Thánh “gửi vào lòng đất hạt giống thân xác sẽ sống lại trong vinh quang” (số 1683).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy chúng ta sẽ sống lại như thế nào (số 997-1004)? Kinh Thánh không thỏa mãn trí tò mò của chúng ta, nhưng dạy chúng ta điều thiết yếu: Thân xác phục sinh là thân xác của chính chúng ta, nhưng không phải trong hình hài hiện nay mà là thân xác “vinh hiển”, bất tử, thân thể có thần khí, giống như thân xác của Đấng Phục Sinh (số 999). Điều quan trọng hơn hết là sống trọn vẹn với Đức Kitô. Người là “sự sống lại và là sự sống” từ ngay bây giờ chứ không chỉ trong thế giới mai sau.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai47"></a><span style="color: #000080;">Bài 4</span></b><span style="color: #000080;"><b>7</b><b>. </b><b>S</b><b>Ự</b><b> CH</b><b>Ế</b><b>T</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Về nhà Cha”. Người Kitô hữu diễn tả cái chết bằng ngôn từ tuyệt đẹp như thế. Bởi lẽ họ ý thức mình chỉ là khách trọ trên trần thế, đang bước đi trong cuộc hành hương không ngơi nghỉ, tiến về Nhà Cha vĩnh cửu. Niềm hi vọng vào sự phục sinh thân xác là câu trả lời của đức tin trước cái chết. Sự chết vừa xấu lại vừa tốt, vừa là kết thúc vừa là khởi điểm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><i>Ch</i><i>ế</i><i>t là m</i><i>ộ</i><i>t s</i><i>ự</i><i> ác!</i> “Thiên Chúa không làm nên cái chết và Ngài không vui sướng khi thấy kẻ sống phải chết. Bởi vì Ngài tạo dựng mọi sự để chúng được hiện hữu” (Kng 1,13-14). Xem ra không dễ chấp nhận khẳng định này của Kinh Thánh. Cái chết lại chẳng phải là một phần của tự nhiên, và do đó, chính Thiên Chúa muốn thế hay sao? Nói gì thì nói, cái chết xuất hiện như một sự ác. Ngay cả trước cái chết của con vật nuôi trong nhà, chúng ta còn cảm thấy buồn, huống hồ khi phải đối diện với cái chết của một người thân. Quả thật, “đối diện với cái chết, bí ẩn về thân phận con người lên đến mức cao nhất” (GLHTCG số 1006).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế giới này chưa đạt đến mức hoàn hảo. Bao lâu tạo thành còn phát triển, bấy lâu vẫn có cái chết: “Thiên Chúa đã muốn dựng nên một trần gian ‘trong tình trạng lên đường’ hướng đến sự hoàn hảo của nó. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, tiến trình này bao gồm sự xuất hiện của những vật này và sự biến mất của những vật khác… có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên” (số 310). “Trở thành và tạm thời” là những đặc tính nội tại của một thế giới không ngừng thay đổi. Cho đến khi Thiên Chúa “đổi mới mọi sự”, dĩ nhiên bằng một cách thế vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, khi đó cái chết không còn là một phần của tự nhiên nữa (số 1044).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập trần gian. Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết” (Kng 2,24). Thánh Phaolô cũng dạy rằng cái chết đã đột nhập trần gian do tội lỗi (Rm 5,12). Theo giáo huấn của Hội Thánh, những khẳng định này của Thánh Kinh có nghĩa là “cái chết về phần xác” là cái gì đó mà “lẽ ra con người đã thoát khỏi nếu đã không phạm tội” (số 1008). Con người phải chết về mặt thể lý, nhưng Thiên Chúa đã tạo dựng con người “cho họ được trường tồn bất diệt” (Kng 2,23). Nếu con người giữ được mối dây thân tình thuở ban đầu với Thiên Chúa, thì sự chết đã không có được quyền lực trên họ. Dù vậy, theo lòng nhân hậu của Ngài, Thiên Chúa vẫn biến đổi cái chết thành sự tốt lành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><i>Ch</i><i>ế</i><i>t là m</i><i>ộ</i><i>t thi</i><i>ệ</i><i>n h</i><i>ả</i><i>o</i>. Thánh Ambrôsiô đã viết một cuốn sách có tựa đề như thế. Vào cuối thế kỷ thứ tư, trong một thời kỳ đầy đau khổ và đen tối, ngài viết: “Khi cuộc sống là một gánh nặng, sự chết đem đến ơn giải thoát; khi cuộc sống là một khổ hình, sự chết là phương thuốc chữa lành”. Nhưng sự chết chỉ là điều tốt lành cho những ai đã chuẩn bị trong cuộc sống: “Xa lánh tội lỗi thì tốt hơn là trốn tránh sự chết. Nếu hôm nay con không sẵn sàng thì làm sao ngày mai con sẵn sàng được?” (<i>Sách G</i><i>ươ</i><i>ng phúc</i>).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai48"></a><span style="color: #000080;">Bài 48. THIÊN ĐÀNG</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời tuyên xưng cuối cùng trong Kinh Tin Kính nói đến sự sống đời đời. “Phục sinh” và “sự sống đời đời” mở ra viễn tượng của thế giới sẽ đến, của những sự sau cùng là: phán xét, luyện ngục, thiên đàng, hỏa ngục. Chết là cửa dẫn vào sự sống vĩnh hằng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Công đồng Vaticanô II khẳng định: “Thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta rồi và sự canh tân trần gian đã được thiết lập cách không thể đảo ngược” (GLHTCG số 670). Từ khi Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người, chịu chết và sống lại, thì sự hoàn thiện đã đến rồi, sự sống vĩnh hằng đã được ban xuống cho chúng ta. Trong Phụng vụ lễ Phục Sinh, chúng ta được nhắn nhủ: “Nếu anh em đã được sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Col 3,1). Sự sống vĩnh hằng đã được bắt đầu: “Được liên kết với Đức Kitô nhờ bí tích Rửa Tội, các tín hữu đã thực sự tham dự vào sự sống thiên quốc của Đức Kitô phục sinh” (số 1003).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù vậy, thánh Tông đồ vẫn nói: “Ước mong của tôi là được ra đi và ở với Đức Kitô” (Phil 1,23). Bởi vì bao lâu còn “ở xa Chúa”, chúng ta còn “bước đi trong đức tin chứ chưa thấy tận mắt” (2Cor 5,6-7). Chỉ khi đó chúng ta mới thấy Thiên Chúa “như Ngài là” (1Ga 3,2), “diện đối diện” (số 1023). Đó là mục đích mà mọi người đều mong đạt tới, dù ý thức hay không ý thức: “Ở đó chúng ta sẽ yên nghỉ và chiêm ngắm, chúng ta sẽ chiêm ngắm và yêu mến, chúng ta sẽ yêu mến và ca ngợi. Đó sẽ là cùng đích vô tận. Vậy chúng ta còn có cùng đích nào khác, nếu không phải là đạt đến Nước vô cùng vô tận?” (Thánh Augustinô, số 1720). Việc chiêm ngưỡng như vậy trong vinh quang thiên quốc được Hội Thánh gọi là sự “hưởng kiến vinh phúc” (visio beatifica) (số 1028).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thiên Đàng là sự hiệp thông trọn hảo với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Đức Mẹ, các thiên thần, các thánh (số 1024). “Sống trên thiên đàng là ở với Đức Kitô”. Vinh quang thiên đàng vượt trên bất cứ điều gì chúng ta có thể tưởng tượng: “Điều mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe… điều mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài” (1Cor 2,9). Tuy nhiên chúng ta có thế cảm nếm Thiên Đàng ngay bây giờ nếu ta bước đi trên nẻo đường tình yêu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong vinh quang trên trời, các thánh vẫn tiếp tục thi hành thánh ý Thiên Chúa một cách hân hoan đối với những người khác và đối với toàn thể các thụ tạo. Các ngài đã hiển trị cùng với Đức Kitô; cùng với Người, các ngài sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai49"></a><span style="color: #000080;">Bài 49. LUY</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ệ</b><b>N NG</b><b>Ụ</b><b>C</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Chúng ta chỉ có thể đón nhận hạnh phúc thiên đàng, được nhìn thấy Thiên Chúa “diện đối diện” khi tâm hồn được thanh luyện hoàn toàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bất cứ ai đến gần Thiên Chúa đều ý thức sự bất xứng của mình. Đứng trước bụi gai bốc cháy, Môsê che mặt. Khi tiên tri Isaia nhìn thấy vinh quang Chúa trong đền thờ, ông kêu lên: “Khốn cho tôi! Tôi chết mất; vì tôi là người với miệng môi ô uế” (6,5). Khi thánh Phêrô chứng kiến mẻ cá lạ lùng, ngài phủ phục trước mặt Chúa Giêsu mà kêu lên: “Xin Chúa tránh xa con vì con là người tội lỗi” (Lc 5,8; GLHTCG số 208).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phải chăng điều gì đó tương tự cũng xảy đến với chúng ta sau khi chết? Trước sự hiện diện của Đức Kitô và tình yêu vô biên của Người, chúng ta lại chẳng ý thức về những bất toàn và tội lỗi của mình sao? Sách Giáo Lý viết: “Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa với Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng” (số 1030). Chúng ta gọi tình trạng thanh luyện đó bằng từ <i>Luy</i><i>ệ</i><i>n Ng</i><i>ụ</i><i>c</i>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Giáo huấn của Hội Thánh về Luyện Ngục rất dè dặt. Truyền thống Hội Thánh chỉ khẳng định có “lửa thanh luyện” và rất cẩn trọng trước những tô vẽ và mô tả về tiến trình thanh luyện (số 1031).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Làm sao chúng ta biết rằng có Luyện Ngục? Trước hết là dựa vào Lời Chúa: “Nếu ai nói phạm đến Chúa Thánh Thần, người đó sẽ chẳng được tha cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12,32). Theo lời đó, có thể hiểu rằng một số tội có thể được tha ở đời này, còn một số tội có thể được tha ở đời sau. Ngoài ra, chúng ta tin từ đức tin của Hội Thánh, từ những thực hành và sinh hoạt phụng vụ của Hội Thánh. Có câu châm ngôn cổ nói rằng “<i>Lex orandi, lex credendi</i> – Luật cầu nguyện là luật đức tin”. Ngay từ thuở đầu, Hội Thánh đã cầu nguyện cho những người đã chết (số 958); cách riêng Hội Thánh dâng hy tế Thánh Thể cho những tín hữu đã qua đời, những người “đã chết trong Đức Kitô” (số 1371, 1689), để họ được hưởng “ánh sáng, hạnh phúc và bình an trước nhan Chúa” (Kinh Nguyện Thánh Thể I).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ những thực hành của Hội Thánh, chúng ta biết rằng lời cầu nguyện và những hi sinh của mình đem lại ơn ích cho người quá cố (số 1032). Đây cũng là mục đích của những ân xá mà chúng ta lãnh nhận và dành cho các linh hồn trong luyện ngục (số 1472, 1479).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Giả như ngày hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, tôi sẽ xuất hiện như thế nào trước mặt Đức Kitô? Chắc chắn là còn biết bao bất toàn, biết bao thiếu sót. Việc thanh luyện không chỉ bắt đầu sau khi chết nhưng cần được bắt đầu từ hôm nay. Những thử thách và đau khổ, nếu được đón nhận trong đức tin, sẽ trở nên sự thanh luyện tâm hồn. Ngọn lửa thanh luyện chính là tình yêu Đức Kitô, ngọn lửa ấy tạo nên những đau đớn của ăn năn sám hối, và làm bừng cháy hạnh phúc thiên đàng.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai50"></a><span style="color: #000080;">Bài 50. H</span></b><span style="color: #000080;"><b>Ỏ</b><b>A NG</b><b>Ụ</b><b>C</b></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong dụ ngôn nổi tiếng về Ngày phán xét chung, Con Người ngự trên ngai vinh hiển nói với những người đứng bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, hãy đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác quỷ và sứ thần của nó” (Mt 25,41). Chúa Giêsu cảnh giác chúng ta về mối nguy “bị ném vào hỏa ngục” (Mt 5,29); Người nói đến “lò lửa” (Mt 13,50), đến “sự tối tăm” ở đó người ta “phải khóc lóc và nghiến răng” (Mt 22,31). “Ý niệm về án phạt đời đời đã rõ ràng trong giáo huấn của Chúa Giêsu cũng như văn bản của các tông đồ. Do đó, sự hiện hữu của hỏa ngục và những hình phạt đời đời là tín điều có cơ sở vững vàng” (J. Ratzinger).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế nhưng người ta có thể nêu ra nhiều câu hỏi: Thánh Kinh lại chẳng nói rõ ràng rằng Thiên Chúa không muốn “bất cứ ai bị hư mất nhưng muốn mọi người ăn năn sám hối” sao? (2Pet 3,9). Chúa mong muốn “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tim 2,4). Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người đến nỗi Ngài làm bất cứ việc gì để đạt mục đích, đến nỗi hiến ban cả Chúa Con cho nhân loại. Đúng thế, nhưng Ngài không thể cứu chúng ta mà không có chúng ta. Thánh Augustinô nói như thế. Vì chúng ta được tạo dựng như những con người tự do nên Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta. Ngài không thể cưỡng bức chúng ta thưa “Vâng” trước tình yêu của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúa Giêsu than thở về sự cứng lòng của Giêrusalem: “Biết bao lần Ta đã muốn quy tụ con cái ngươi lại… nhưng ngươi không muốn” (Lc 13,34). Tình yêu Thiên Chúa đợi chờ sự ưng thuận của chúng ta cho đến giây phút cuối cùng. Trên đồi Canvê, người trộm lành quay nhìn về Chúa Giêsu đã được cứu khi sắp lìa đời: “Ngay hôm nay, anh ở trên Thiên Đàng với tôi” (Lc 23,43). Nhưng giả như có ai đó cứ ương ngạnh đến cùng thì sao? “Thiên Chúa không tiền định cho ai xuống hỏa ngục cả; điều này giả thiết sự tự ý thù ghét Thiên Chúa (tội trọng) và cố chấp trong tình trạng đó đến cùng” (GLHTCG số 1037).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách Giáo Lý định nghĩa hỏa ngục là “tình trạng chính mình tự loại trừ mình cách vĩnh viễn khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và các thánh” (số 1033). C.S. Lewis nói cách dí dỏm rằng: Trên trời, con người thưa với Thiên Chúa “Xin cho Thánh Ý Cha được thể hiện”; còn trong hỏa ngục, Thiên Chúa nói với con người “ý ngươi được toại nguyện”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Liệu trong cuộc đời này có ai muốn chống lại Thiên Chúa mãi không? Một đàng, Hội Thánh khẳng định những con người cụ thể được vào Thiên Đàng (các thánh); đàng khác, Hội Thánh không hề khẳng định con người cụ thể nào đã xuống hỏa ngục. Tuy nhiên Hội Thánh dạy rằng các thiên thần sa ngã ở trong hỏa ngục và xa cách Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Không ai có thể tự ban tặng cho mình hạnh phúc vĩnh hằng. Tuy nhiên chúng ta có thể làm cho mình thành kẻ bất hạnh đời đời khi từ chối ơn hoán cải. Hỏa ngục là điều hoàn toàn có thể xảy ra cho con người. Vì thế Hội Thánh tha thiết cầu nguyện cho mọi người: “Xin cứu chúng con thoát khỏi án phạt đời đời và nhận chúng con vào đoàn những người Chúa chọn” (số 1037).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai51"></a><span style="color: #000080;">Bài 51. PHÁN XÉT CHUNG</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Bởi vì bất cứ ai đến gần Thiên Chúa đều phải tin rằng Ngài hiện hữu và Ngài ban phần thưởng cho những kẻ kiếm tìm Ngài” (Dt 11,6). Tin vào Chúa hàm nghĩa rằng tất cả những gì chúng ta làm, hoặc không chịu làm, đều có ý nghĩa với Thiên Chúa. Hành động của chúng ta đem lại những hậu quả, hoặc thấy được hoặc không thấy, và khi chúng ta không chịu làm điều đáng ra phải làm thì cũng đem lại hậu quả. Đôi khi chúng ta có thể thấy ngay những hậu quả đó, còn thông thường chúng ta không thấy nhưng nó vẫn có đó. Trong dụ ngôn người Samari nhân hậu (Lc 10,30-37), thầy tư tế và thầy Lêvi nhìn thấy nạn nhân bị đánh, nằm bên vệ đường, mình đầy thương tích, và họ bỏ qua, cứ thế mà đi. Có thể họ không ý thức rằng họ đã lỗi đức bác ái, và họ quên mất lỗi lầm của mình. Nhưng tội thiếu sót đó vẫn còn (trong kinh Cáo Mình, chúng ta xưng thú tội lỗi trong tư tưởng, lời nói, việc làm và <i>nh</i><i>ữ</i><i>ng đi</i><i>ề</i><i>u thi</i><i>ế</i><i>u sót</i>). Ngày nào đó, trước mặt Chúa, mọi sự sẽ được bày tỏ: những hành động và những thiếu sót của chúng ta, cùng với những hậu quả kèm theo và vẫn tiếp tục gây hậu quả trong thời gian.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tin vào sự phán xét của Chúa (GLHTCG số 1038-1041) là nhìn nhận sự tự do của con người. Vì Thiên Chúa tạo dựng chúng ta như những con người tự do, nên chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành động của mình cũng như về hậu quả của những hành động ấy (số 1731, 1734). Còn khi chúng ta bị ép buộc, không có tự do, thì không phải chịu trách nhiệm và không bị trừng phạt (số 1735).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những việc làm tốt đáng được cộng đoàn nhìn nhận và biết ơn. Thế nhưng có nhiều việc tốt được thực hiện cách âm thầm và chẳng ai để ý đến. Ai sẽ ban phần thưởng cho những việc đó? Phần thưởng và hình phạt của thế gian không thể là tiếng nói cuối cùng, vì thế gian đầy giới hạn và không ít bất công. Chỉ một mình Thiên Chúa mới biết rõ mọi sự, kể cả những tư tưởng thầm kín nhất, và một ngày nào đó, mọi sự sẽ được phơi bày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi nào? Chúa Giêsu nói: “Con Người sẽ ngự đến cùng với các thiên thần trong vinh quang của Cha Người, và Người sẽ trả lại cho mỗi người xứng với việc họ đã làm” (Mt 16,27). Thánh Phaolô nói: “Chúng ta phải ra trước tòa phán xét của Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận phần thưởng hay hình phạt tùy theo việc họ làm” (2Cor 5,10).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào ngày “cuối cùng”, khi Đức Kitô ngự đến, sẽ diễn ra cuộc phán xét chung. Mọi sự được phơi bày. Đó là “giờ của sự thật”. Đối với mỗi người chúng ta, “giờ sự thật” ấy đã đến ngay lúc chúng ta lìa đời (số 1022): “Vào buổi xế chiều của cuộc sống, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu” (Thánh Gioan Thánh Giá). Hơn thế nữa, ngay từ hôm nay, tôi đã có thể nghe lời xét xử của Chúa qua tiếng lương tâm (số 1777). Nhìn nhận mình là tội nhân và đặt mình trước sự xét xử của Chúa, đó là cách thực hành tốt nhất giúp ta sống niềm tin vào sự phán xét. Và khi chúng ta chân thành nhìn nhận tội lỗi của mình thì niềm tin vào Thiên Chúa giàu lòng thương xót lại nói với ta: “Thiên Chúa lớn hơn lòng chúng ta” (1Ga 3,20).</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><b><a name="Giaoly-bai52"></a><span style="color: #000080;">Bài 52. AMEN</span></b></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời cuối cùng trong Kinh Tin Kính là AMEN. Trong tiếng Do thái, từ “tin” và từ “amen” có chung một gốc, có nghĩa là chắc chắn, đáng tin, trung tín (GLHTCG số 1062). Cho nên từ đầu tiên trong Kinh Tin Kính “Tôi tin” và từ cuối cùng “Amen” tương ứng với nhau. Tiếng “Amen” củng cố sự đáng tin của những điều chúng ta tuyên xưng. Sách Giáo Lý viết: “Đức tin thì chắc chắn, bời vì đức tin dựa trên chính Lời của Thiên Chúa, Đấng không thể nói dối” (số 157). Khẳng định này khiến chúng ta ngỡ ngàng bởi lẽ ta thấy niềm tin của mình sao quá mong manh. Thế nhưng nếu chúng ta nhìn đức tin từ quan điểm của Đấng mà mình tin, thì sẽ thấy đức tin của ta dựa trên nền tảng vô cùng vững chắc. Điều chúng ta tin xem ra mù tối, không hiểu nổi; tuy nhiên nó chắc chắn vì Thiên Chúa là Đấng đáng tin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Kinh thường nhắc đến hai phẩm tính song song của Thiên Chúa: nhân hậu và trung tín, tình yêu và chân lý (số 214). Từ “trung tín” và “chân lý” có cùng một gốc với những từ “tin” và “Amen”. “Thiên Chúa là chính Chân lý” (số 215) và lời của Ngài không lừa dối chúng ta. Chính vì thế các tiên tri nói đến “Thiên Chúa của Amen” nghĩa là “Thiên Chúa của chân lý” (Isaia 65,16).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Giêsu Kitô chính là lời “Amen” của Thiên Chúa (Kh 3,14) vì “Mọi lời hứa của Thiên Chúa đều nên trọn nơi Người” (2Cor 1,20). Người là lời Amen dứt khoát của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người (số 1065). Do đó lời AMEN kết thúc Kinh Tin Kính là lời chúc tụng, tạ ơn của chúng ta trước tình yêu và sự trung tín của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời AMEN còn mang một ý nghĩa khác, làm vọng lại lời cuối cùng trong Sách Thánh: “Amen, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20). Hàm trong lời AMEN này là lời cầu khẩn xin Chúa thực hiện điều Ngài đã hứa, xin Chúa hoàn tất những gì Ngài nói và làm. Đức tin của chúng ta đang gặp nguy nan, có thể bị nhận chìm (số 162). Do đó chúng ta phải xin ơn bền đỗ (số 2016-2017). Để có thể trung tín với Chúa đến cùng, chúng ta phải nài xin Đức Kitô đưa tiếng “xin vâng” nghèo nàn và yếu ớt của chúng ta vào lời AMEN của Người (số 1065). Không có ân sủng của Người, chúng ta không thể đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu Người đã hứa ban.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời. AMEN.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <b><i>ĐHY Christoph Schönborn</i></b><br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="#Giaoly-Mucluc">[MỤC LỤC]</a></em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #808080;">___________________________________</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2013/04/02/tim-hieu-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-52-bai-phan-i/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vì sao bút chì có cục tẩy?</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2013/02/25/vi-sao-but-chi-co-cuc-tay/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2013/02/25/vi-sao-but-chi-co-cuc-tay/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 25 Feb 2013 04:45:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoctran</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[ăn năn]]></category>
		<category><![CDATA[Bí Tích Hòa Giải]]></category>
		<category><![CDATA[bút chì]]></category>
		<category><![CDATA[có cục tẩy]]></category>
		<category><![CDATA[Lm Giuse Nguyễn Hữu An]]></category>
		<category><![CDATA[Mùa Chay]]></category>
		<category><![CDATA[thống hối]]></category>
		<category><![CDATA[vì sao]]></category>
		<category><![CDATA[xưng tội]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=11395</guid>
		<description><![CDATA[Câu trả lời thật rõ ràng: để xóa đi những chữ viết sai, viết chưa... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2013/02/25/vi-sao-but-chi-co-cuc-tay/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2013/02/xung_toi.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-11396" alt="xung_toi" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2013/02/xung_toi.jpg" width="299" height="224" /></a>Câu trả lời thật rõ ràng: để xóa đi những chữ viết sai, viết chưa đẹp hoặc để xóa hoàn toàn một đoạn văn nào đó!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi một đứa trẻ mới vào lớp một, cô giáo không cho chúng viết bằng bút bi mà viết bằng bút chì. Bởi vì, bàn tay yếu ớt của các bé nhất định sẽ có lúc viết những nét nguệch ngoạc, sai từ này đến từ khác. Và khi đó, bé sẽ dùng tẩy để xóa đi những chữ viết chưa đúng, chưa đẹp của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta cũng vậy, không ai sinh ra đã có thể viết lên những bài ca cuộc đời một cách hoàn chỉnh! Không ai có thể trưởng thành mà chưa một lầm vấp ngã hay mắc sai lầm! Vì thế, trong cuộc sống này, chúng ta cũng cần có một cục tẩy cho riêng mình. Cục tẩy giúp xóa đi những sai lầm vấp váp của chính bản thân. Có lúc chúng ta không dùng đến cục tẩy đó khiến cho những trang giấy cuộc đời nhem nhuốc bởi những dòng gạch và xóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cần biết chấp nhận sai lầm như một điều tự nhiên trong cuộc sống. Cục tẩy là để xóa đi những chữ viết chưa được tròn trịa, chưa được chính xác. Cục tẩy phải mòn dần theo năm tháng, nếu nó cứ mới mãi như ngày xuất xưởng sẽ không ý nghĩa gì cả. Không sử dụng cục tẩy, cuộc đời của chúng ta sẽ chi chít những vết gạch xóa sau những lần mắc sai lầm. Một tờ giấy như vậy có đẹp đẽ gì không? Hãy để cuộc đời là một tờ giấy được viết nên bởi những trải nghiệm, những thử thách, những quyết tâm và cả lòng bao dung tha thứ nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bút chì có cục tẩy cũng giống như đời sống con người cần có Bí Tích Hòa Giải. Mùa Chay và Tuần Thánh, các Giáo xứ nhộn nhịp bầu khí đạo đức: tĩnh tâm, giải tội.Qua trung gian Linh mục, hối nhân gặp được trái tim đầy thương xót của Thiên Chúa.Khi được Thánh Tẩy, chúng ta đã trở nên tạo vật mới nhưng bản chất con người vốn yếu đuối thường hay sa ngã nên cần được phục hồi qua Bí tích Hòa Giải (x.1Cr 6,11; 1Ga 1,8). Nhờ đó, hối nhân được giao hòa với Thiên Chúa và Hội Thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>1. Hiệu quả của Bí Tích Hòa Giải</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">- Xưng Tội là để <strong><i>được tha tội,</i></strong> <strong><i>nhằm giao hòa với Thiên Chúa và anh chị em</i></strong>. Tội lỗi nào cũng là một vết thương, một sự cắt đứt mối giao hảo nối liền chúng ta với Thiên Chúa và anh chị em. Tội trước hết là xúc phạm tới Thiên Chúa, là đoạn tuyệt với Người, đồng thời cũng làm tổn thương sự hiệp thông với Hội Thánh. Cao điểm của bí tích này chính là để giao hòa, gặp gỡ Thiên Chúa và người đồng loại. Được sạch tội là tạo điều kiện cho sự gặp gỡ thân mật ấy. Chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội cho con người, và quyền ấy cũng được Chúa Kitô chuyển giao cho Hội Thánh để nhân danh Người mà tha tội <em>(Ga 20,21.23).</em> Đây là một trong những chân lý quan trọng nhất của Kitô giáo : “Không có tội nào nặng đến nỗi Hội Thánh không thể tha thứ được. ‘<em>Dù có ai gian ác và xấu xa đến đâu… vẫn có thể tin chắc được tha thứ, miễn là chân thành sám hối’</em>. Đức Kitô, Đấng đã chết cho mọi người, muốn rằng : mọi cánh cửa tha thứ trong Hội Thánh luôn rộng mở cho bất cứ ai ăn năn trở lại” <em>(</em>GLTC #<em> 982).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những thế kỷ đầu, Hội Thánh rất ít ban bí tích này và đòi hối nhân phải chịu một hình thức kỷ luật công khai rất khắt khe. Sang đến thế kỷ VII, với ‘<em>hình thức thống hối riêng tư</em> ’mở đường cho việc năng nhận Bí tích Giải Tội. Việc tha tội đặt nền tảng trên hai yếu tố chính là những hành vi thống hối của con người, và tác động tha thứ của Thiên Chúa qua thừa tác vụ của Hội Thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Linh mục vừa là đại diện Chúa Kitô, Đấng giải hoà chúng ta với Thiên Chúa; vừa là đại diện Hội Thánh để tha thứ tội lỗi và đón nhận chúng ta trở lại với cộng đồng. Hối nhân cần trung thực cởi mở cõi lòng với linh mục, và cũng nên biết rằng mình đang đối thoại với một tội nhân khác. Linh mục cũng là người, nghĩa là cũng được Chúa Kitô tha tội như những người khác. Vì thế với đức tin, chúng ta nhìn nhận linh mục trong toà giải tội như vị đại diện Chúa Kitô, nhưng cũng như một người anh em và là bạn hữu của các tội nhân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">- Bí tích Hòa Giải còn <strong><i>ban ơn trợ giúp</i></strong> hối nhân vượt thắng tội lỗi. Do đó, dù khi chỉ phạm tội nhẹ, chúng ta cũng cần đến bí tích này để lãnh nhận ơn trợ giúp của Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Bí tích Thống Hối phục hồi chúng ta trong ơn nghĩa Chúa và liên kết chúng ta với Người trong tình bằng hữu thắm thiết và cao cả. Mục đích và hiệu quả của Bí tích này là giao hòa hối nhân với Thiên Chúa. Ai lãnh nhận Bí tích Giao Hòa với lòng thống hối và đạo đức, lương tâm ‘sẽ bình an thư thái, được an ủi thiêng liêng’. Bí tích Giao Hòa thực hiện một ‘cuộc phục sinh thiêng liêng’ đích thực, hoàn lại phẩm giá và những đặc quyền của đời sống con cái Thiên Chúa, nhất là tình bằng hữu với Người” (GLTC # 1468)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>2. Diễn tiến giao hoà</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>-</strong> <strong>Xét mình</strong> là nhìn lại đời sống của mình trong ba tương quan <em>(3 bổn phận)</em> với Thiên Chúa, với anh chị em đồng loại và với chính bản thân mình. Không thể giao hòa cùng Thiên Chúa và Hội Thánh mà trước đó lại không chịu nhìn nhận tội lỗi của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>-</strong> <strong>Lòng thống hối</strong> ăn năn rất cần thiết để nhận được ơn tha tội. Bí tích Giải Tội chỉ có hiệu lực đối với những ai thực tình thống hối tội lỗi của mình và quyết tâm hối cải những tội mình đã phạm và chiến đấu chống trả tội lỗi. Thói quen thống hối thường hay đọc kèm kinh Thú Nhận, kinh Ăn năn tội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>-</strong> <strong>Xưng tội</strong> vừa có ý nghĩa nhận biết tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, và đồng thời thú nhận tất cả tội lỗi của mình. Toà giải tội không phải là diễn đàn để khoe mình, cũng không phải là ‘<em>toà án’</em> để tự biện hộ cho mình hay cáo tội người khác. Đơn sơ và khiêm tốn trình bày những lỗi lầm của mình, cả về số lần phạm tội, để linh mục, thầy thuốc tâm hồn, có thể khuyên bảo cách thích hợp và hữu ích. Không thể khuyên bảo cùng một cách cho những người nhiều năm không giữ đạo, giống với những người vẫn Xưng Tội đều đặn hàng tháng; vì làm như vậy, ơn trở lại của họ bị giới hạn rất nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tác vụ Giải Tội rất cao trọng đòi hỏi cha giải tội phải tôn trọng và tế nhị đối với người xưng tội. Nhân danh Chúa Kitô, linh mục đón nhận hối nhân, chuyển đạt cho họ tình thương của Chúa Cha, và nghe họ thố lộ những bí mật của lương tâm. Giáo Luật <em>điều 983 $1</em> buộc nhặt linh mục, khi giải tội, phải giữ kín tuyệt đối những gì mà hối nhân đã xưng thú. Đây là <em>‘Ấn tín Bí tích’</em>, vì tất cả những gì hối nhân xưng thú đều được Bí tích <em>‘niêm ấn’</em>. <strong>Bí mật tòa giải tội</strong> không chấp nhận một luật trừ nào, cho nên ai vi phạm sẽ mắc vạ nặng nề <em>(</em>GLTC #<em> 1467</em>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>-</strong> <strong>Xá giải</strong> là tháo cởi, giải thoát tội nhân khỏi những xiềng xích ràng buộc của tội lỗi. Nhờ ơn Thiên Chúa, xá giải là sự tha thứ trọn vẹn các tội được xưng thú và thiếu sót không cố ý. Linh mục giơ tay hoặc đặt tay trên đầu hối nhân và đọc lời xá giải <em>(giơ tay là một cử chỉ biến thể của nghi thức đặt tay vì tha tội cũng là ơn của Thánh Thần)</em>. Hối nhân quỳ hay đứng cúi đầu, im lặng lắng nghe lời xá giải và thưa: <em>“Amen</em>”, chứ không phải là đọc kinh Ăn năn tội <em>(sám hối là việc phải làm trước khi vào tòa xưng tội)</em>. Lời xá giải là lời cầu khẩn hơn là một án lệnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>-</strong> <strong>Đền tội</strong> là tạ ơn lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa. Tất cả phạm nhân bị toà án phân xử đều phải nhận một hình phạt tương xứng với tội của họ. Trong Bí tích Giải tội, việc này không nhằm đền tội đã phạm cho bằng giúp hối nhân tạ ơn và quyết tâm sống cuộc đời mới, giúp cải thiện tương quan với tha nhân vì <em>‘tình yêu có thể che lấp mọi tội lỗi’ (1Pr 4,8).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>3. Nghi thức giao hòa</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách nghi thức Bí tích Hòa giải có nhiều mẫu nghi thức:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><i>- Nghi thức Giao Hòa từng hối nhân</i></strong> bao gồm cả phần đón tiếp hối nhân, đọc Lời Chúa <em>(hối nhân nghe hoặc tự đọc), </em>hướng dẫn cầu nguyện, xét mình, xưng tội, lời khuyên của linh mục, nhận việc đền tội, cầu nguyện xin ơn tha thứ, linh mục xá giải, lời nguyện tạ ơn trước khi ra về. Nếu có nhiều người lãnh nhận cùng lúc, có thể đọc chung cho nhiều người, tuy nhiên việc đọc Kinh Thánh này cũng không bắt buộc, và tùy nghi đơn giản các diễn tiến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><i>- Nghi thức Giao Hòa nhiều hối nhân nhưng xưng tội và giải tội từng người</i></strong> để nhấn mạnh tính cộng đoàn vì sự liên đới trong tội của nhiều người. Tội không chỉ là hành vi cá nhân mà nhiều khi còn là hệ quả của sự đồng lõa nên cũng cần giúp nhau sám hối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Bí tích Giải Tội có thể được cử hành cộng đoàn : tất cả cùng chuẩn bị xưng tội và cùng nhau cảm tạ vì được ơn tha thứ. Lúc đó việc xưng tội và giải tội cá nhân được tiến hành trong một cử hành Lời Chúa, với việc đọc Sách Thánh và diễn giảng, cộng đoàn được hướng dẫn xét mình ; xin ơn tha thứ, đọc kinh Lạy Cha và cùng tạ ơn. Hình thức này diễn tả rõ nét hơn tính Hội Thánh của việc thống hối<em>” (</em>GLTC #<em>1482).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>- Nghi thức Giao Hòa nhiều hối nhân nhưng thú tội và giải tội chung</strong>, còn gọi là <em>Giải Tội tập thể</em>. Trong trường hợp nguy tử hay thật khẩn thiết về điều kiện thời gian và hoàn cảnh, linh mục có thể cử hành Bí tích Giải Tội tập thể, nghĩa là xưng tội chung và tha tội chung, nhưng đòi buộc phải xưng lại những tội trọng khi có dịp xưng tội riêng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><i>- Nghi thức thống hối cộng đồng</i></strong> mà không Xưng Tội nhằm gợi lên tinh thần sám hối để dọn mình Xưng Tội vào một dịp thuận tiện khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sám hối là tâm tình luôn phải có của giới luật mến Chúa yêu người. Đặc biệt mỗi tối trước khi ngủ nên đọc kinh tối, xét mình và xin Chúa thứ tha mọi tội lỗi trong tư tưởng, lời nói và hành động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>4. Cuộc gặp gỡ kỳ diệu làm nên hạnh phúc</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong Bí Tích Hòa Giải, Chúa và con người gặp nhau cách kỳ diệu nhiệm mầu. Người ta ra về với một trời mới, đất mới. Cỏ cây xanh tươi. Nắng chan hoà ấm cúng trong lòng người. Và đó là hạnh phúc. Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng: mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ tòa giải tội bước ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bút chì cần cục tẩy, mỗi người cần Bí Tích Hòa Giải. Mỗi lần được tẩy xóa tội lỗi chúng ta lại có một mùa xuân thiêng liêng mới đang nở trong lòng nhờ được chìm sâu trong Trái Tim Nhân Lành của Thiên Chúa Tình Yêu.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #ff9900; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"> <strong>Lm Giuse Nguyễn Hữu An</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2013/02/25/vi-sao-but-chi-co-cuc-tay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mười tám chân dung Đức Kitô qua dòng lịch sử</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2012/10/03/18-chan-dung-dkt/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2012/10/03/18-chan-dung-dkt/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 03 Oct 2012 02:14:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Fx. Nguyễn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Điểm sách - Đọc sách online]]></category>
		<category><![CDATA[Chân Dung Đức Kitô]]></category>
		<category><![CDATA[Con người mới]]></category>
		<category><![CDATA[hình ảnh Thiên Chúa]]></category>
		<category><![CDATA[kito hoc]]></category>
		<category><![CDATA[nhà giải phóng]]></category>
		<category><![CDATA[Thái Tử hòa bình]]></category>
		<category><![CDATA[Thi sỹ tinh thần]]></category>
		<category><![CDATA[Đức Kitô qua các thời đại]]></category>
		<category><![CDATA[Đức Kitô Vua]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=8433</guid>
		<description><![CDATA[Mười Tám Chân Dung Đức Kitô Qua Dòng Lịch Sử Nguyên tác: Jesus Through The... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2012/10/03/18-chan-dung-dkt/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<h2 style="text-align: center;"><span style="color: #0000ea;">Mười Tám Chân Dung Đức Kitô </span></h2>
<h2 style="text-align: center;"><span style="color: #0000ea;">Qua Dòng Lịch Sử</span></h2>
<p><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://daichungvienvinhthanh.com/wp-content/uploads/2012/10/1219740936.jpg"><img class="aligncenter  wp-image-15623" title="1219740936" src="http://daichungvienvinhthanh.com/wp-content/uploads/2012/10/1219740936.jpg" alt="" width="361" height="275" /></a></p>
<h2 style="text-align: center;"><span style="color: #99cc00;"><em>Nguyên tác:</em></span> <span style="color: #008000;">Jesus Through The Centuries</span></h2>
<h4 style="text-align: center;"><span style="color: #ff9900;">của</span></h4>
<h4 style="text-align: center;"><span style="color: #ff6600;">Jaroslav Pelikan</span></h4>
<h4 style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"> Yale University 1985</span></h4>
<p style="text-align: center;"><strong> </strong><span style="color: #666699;"><strong>________________________________________</strong></span></p>
<h3 style="padding-left: 120px;"><a name="Cd181"></a><span style="color: #0000ff; font-size: medium;">Mục Lục</span></h3>
<h3 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd182">Lời Ngỏ</a></span></h3>
<h3 style="padding-left: 120px;"><span style="color: #0000ff; font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd183"><span style="color: #0000ff;">Thời Thượng Cổ</span></a></span></h3>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd184">1. Rabbi</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd185">2. Khúc quặt của lịch sử</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd186">3. Ánh sáng muôn dân</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd187">4. Vua các vua</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd188">5. Lý càn khôn – Logos (tk 4-5)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd189">6. Con người (tk 5)</a></span></h4>
<h3 style="padding-left: 120px;"><span style="color: #0000ff; font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1810"><span style="color: #0000ff;">Thời Trung Cổ</span></a></span></h3>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1811">7. Hình ảnh Thiên Chúa (tk 8-9)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1812">8. Đức Kitô trên thập tự (tk 10-11)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1813">9. Đan sĩ chinh phục thế giới (tk 11-12)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1814">10. Bạn tình của linh hồn</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1815">11. Khuôn mẫu cho cuộc sống (tk 13-14)</a></span></h4>
<h3 style="padding-left: 120px;"><span style="color: #0000ff; font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1816"><span style="color: #0000ff;">Thời Phục Hưng</span></a></span></h3>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1817">12. Con người mới (tk 15-16)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1818">13. Bức gương trong (thời Cải cách tk 16-17)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1819">14. Thái tử Hòa bình</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1820">15. Nhà mô phạm luân lý</a></span></h4>
<h3 style="padding-left: 120px;"><span style="color: #0000ff; font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1821"><span style="color: #0000ff;">Thời Hiện Đại</span></a></span></h3>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1822">16. Thi sĩ của tinh thần (Tk 19)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1823">17. Nhà giải phóng (Tk 20)</a></span></h4>
<h4 style="padding-left: 120px;"><span style="font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1824">18. Đức Giêsu Vũ Hoàn.</a></span></h4>
<h3 style="padding-left: 120px;"><span style="color: #0000ff; font-size: medium;"><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd1825"><span style="color: #0000ff;">Kết Luận</span></a></span></h3>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #666699;"><strong>________________________________________</strong></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="color: #808000;"><a name="Cd182"></a><span style="color: #ff6600; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời Ngỏ</span></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong>Kính thưa quý vị và các bạn,</strong></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong mấy tháng trước, chúng tôi đã trình bày những vấn đề của thần học về con người và Học thuyết xã hội của Giáo hội. Tuy dưới những hình thức đa dạng, nhưng chúng ta có thể ghi nhận một mẫu số chung, đó là: phẩm giá con người được sáng tỏ nhờ mầu nhiệm Nhập thể của đức Kitô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong tháng này, đang khi chuẩn bị đón mừng lễ Chúa Giáng sinh, chúng tôi xin dành mục Thời sự thần học để giới thiệu quyển sách Jesus through the centuries của Jaroslav Pelikan (Yale University 1985). Tác giả là giáo sư tại đại học Yale, Hoa kỳ. Sau khi hoàn thành một bộ sách 5 quyển về lịch sử tư tưởng thần học Kitô giáo từ đầu đến nay (The Christian Tradition), tác giả đã viết tác phẩm này, chú trọng đến chân dung của đức Kitô trải qua 20 thế kỷ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy rằng &#8220;Đức Kitô hôm qua hôm nay và mãi mãi vẫn là một&#8221; (Dt 13,8), nhưng mỗi thời đã vẽ bức chân dung của Ngài một kiểu. Trong 18 chương, tác giả đã khám phá ra những nét của một vị tôn sư, một vị đại vương &#8230; lẫn một nhà đạo sĩ, một bạn tình, một nhà cách mạng. Tác giả không dừng lại ở các tín điều hay tác phẩm thần học về đức Kitô, nhưng còn muốn đi tìm chân dung của Ngài nơi những tác phẩm văn học và nghệ thuật, thậm chí những tác phẩm của những văn hào ngoài Kitô giáo như Mahatma Gandhi. Chúng tôi xin hân hạnh kính mời quý vị đi chiêm ngắm 18 bức chân dung của đức Kitô trải qua 20 thế kỷ. Hy vọng rằng không những chúng ta sẽ hiểu rõ đức Kitô hơn, nhưng đồng thời chúng ta cũng có theo dõi được vài yếu tố đã có ảnh hưởng tác dụng đến văn hóa nhân loại trong 20 thế kỷ qua.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Jaroslav Pelikan, Jesus Through The Centuries, Yale University 1985.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mục Thời Sự Thần Học 105-109, Radio Vatican, tháng 12 năm 1994</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lm Giuse Phan Tấn Thành OP</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181">Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd183"></a><span style="color: #ff6600;">Thời Thượng Cổ</span></span></h3>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd184"></a><span style="color: #008080;">1. Rabbi</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có lẽ tước hiệu đầu tiên mà người đương thời đã tặng cho đức Giêsu là &#8220;Rabbi&#8221;, &#8220;thầy Giêsu&#8221;. Tước hiệu rabbi không phải là xa lạ gì đối với xã hội Do thái thời đó (Mt 23,8). Dĩ nhiên ở đây, &#8220;thầy&#8221; không hiểu như là thầy nho, thầy đồ dậỵ chữ nghĩa, nhưng là &#8220;kinh sư&#8221; (theo bản văn Tân ước của nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng vụ), những nhà chuyên môn về Kinh thánh, giải thích và áp dụng luật Chúa vào hoàn cảnh mới. Thánh sử Luca (4,16-30) tả lại rằng đức Giêsu khai mạc sứ vụ của mình tại hội đường Nadareth, mở Kinh thánh (sách Isaia ch.61), đọc và chú giải, giống kiểu các kinh sư thời đó. Cũng vậy, lối văn giảng dậy của Ngài mang nhiều sắc thái của các đồng nghiệp, thí dụ như bằng cách giải những vấn nạn được thính giả nêu lên : “Thưa thầy, một bà kia có bảy chồng liên tiếp, đến ngày sống lại bà sẽ là vợ của ông nào ?” (Mt 22,24) “Thưa thầy, có được nộp thuế cho hoàng đế Rôma không ?” (Mt 22,16) “Thưa thầy, phải làm gì để được vào nước trời ?” (Mt 19,16)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thể văn xem ra độc đáo của rabbi Giêsu là dùng dụ ngôn. Ngài dùng một biến cố vừa mới xảy ra hay một sự kiện quen thuộc trong đời sống hằng ngày để so sánh với thực tại về Nước Chúa. Dù sao, thì thính giả tinh ý hơn có thể nhận thấy có vài nét độc đáo trong những bài giảng của thầy Giêsu, thí dụ ngài thường thêm tiếng &#8220;Amen&#8221;. Người Do thái dùng tiếng &#8220;Amen&#8221; để kết thúc các kinh nguyện (Tl 27,14-26), ra như ngụ ý nói : &#8220;Đúng thế! mong thay ! ước sao cho được như vậy&#8221;. Còn thầy Giêsu thì lại gắn ở đầu lời tuyên ngôn : &#8220;Amen legô hymin&#8221; (Quả thật, tôi nói cho các anh biết). Người ta đếm được trong 4 quyển Phúc âm có tới 75 lần thầy Giêsu dùng lối nói đó, thường là để kiện toàn Luật Maisen, thí dụ như trong bài giảng trên núi (Mt 5,21-48).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Như thế thầy Giêsu không phải chỉ giải thích luật như những kinh sư khác, mà thầy còn dám sửa chữa luật nữa. Thầy tỏ ra mình có uy quyền ngang hàng với Maisen mà toàn dân Do thái đều nhất trí coi như là Ngôn-Sứ đệ nhất hạng (Tl 18,15-22). Vì vậy mà cũng có người gọi thầy Giêsu là Ngôn sứ nữa (Ga 6,14; 7,40). Ngoài ra không ít người cũng coi Ngài như là Messia (Ga 1,41) &#8211; người được xức dầu &#8211; dịch ra tiếng Hy lạp là ho Christos, phiên âm là Kitô. Trong các thư của Phaolo, tước hiệu Kitô và Đức Chúa trở nên nổi bật hơn (Rm 1,1-6), và lấn át đi bức chân dung nguyên thủy của Rabbi Giêsu Nadareth.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd185"></a><span style="color: #008080;">2. Khúc quặt của lịch sử</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra, sự tiến triển vừa nói không phải là gò bó gượng ép. Như vừa thấy trên đây, rabbi Giêsu đã biểu lộ vài nét độc đáo trong lối giảng của mình. Ngay từ khi mới bắt đầu sứ vụ, Thầy đã nói: &#8220;Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng&#8221; (Mc 1,14-15). Thế hệ các Kitô hữu tiên khởi đã nhận thức rằng nơi đức Giêsu Thiên Chúa đã đánh dấu một giai đoạn mới của thời viên mãn. Việc đức Giêsu xuất hiện không phải chỉ giống như là một kinh sư, một ngôn sứ, nhưng nó đánh dấu cả một giai đoạn mới trong lịch sử nhân loại. Tác giả của sách Khải huyền đã ghi lại rằng Ngài là &#8220;Alpha và Omega&#8221;, nguyên thủy và cùng đích của lịch sử (Kh 1,8). Thực ra, vào thời ấy, có lẽ có người đã hiểu câu nói ấy theo nghĩa thế mạt : họ tin rằng đức Kitô thiết lập triều đại của Thiên Chúa trên dương thế, như bao người đang mong đợi (Tđcv 1,6-7), và kết liễu dòng lịch sử nhân loại đã mang dấu vết của bao nhiêu cảnh bất công, bóc lột chém giết. Tuy nhiên, dần dần, người ta mới hiểu chính xác hơn vai trò của đức Kitô trong lịch sử: Ngài không đến để kết liễu lịch sử nhân loại, nhưng đánh dấu một khúc quặt mới. Ngài không tiêu hủy các thể chế của nhân loại, nhưng tiêm nhiễm cho nó một chiều hướng mới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tác giả của thư gửi người Hi bá đã gắn liền tất cả các lần Thiên Chúa mặc khải trong lịch sử nhân loại thành một chuỗi tiệm tiến liên tục hướng đến đức Kitô: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dậy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1). Tuy nhiên, đức Kitô không phải chỉ đánh dấu một khúc quặt trong lịch sử tôn giáo, liên can tới mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người. Thánh Augustinô (De Civitate Dei, viết vào những năm 413-426) đã đặt đức Kitô như một khúc quặt mang lại ý nghĩa cho toàn thể lịch sử nhân loại. Những suy tư đó còn mang ảnh hưởng cho đến ngày hôm nay. Quyển lịch chúng ta đang dùng dựa theo lối tính của tu sĩ Đionysius Exiguus, sống vào thế kỷ thứ 6: niên lịch sẽ được tính không căn cứ vào năm lập quốc của Rôma hay năm lên ngôi của hoàng đế, nhưng căn cứ vào ngày ra đời của đức Kitô. Lịch sử nhân loại được chia thành hai khúc: trước Chúa giáng sinh và sau Chúa giáng sinh. Các biến cố khác của nhân loại sẽ dựa theo đó mà tính, dù là vua Herốt (kẻ đi truy nã hài nhi Giêsu để thủ tiêu) hay là những người muốn tiêu diệt Kitô giáo như Nêrô, Stalin. Thí dụ lịch sử sẽ ghi lại rằng Stalin qua đời năm 1953 kể từ khi Chúa Kitô giáng sinh. Tiếc rằng vì những hạn chế cá nhân, tu sĩ Điônysiô đã tính lệch biến cố Chúa giáng sinh từ 4 cho tới 7 năm. Nhưng dù sao, lịch sử của nhân loại vẫn xoay quanh biến cố đó.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd186"></a><span style="color: #008080;">3. Ánh sáng muôn dân</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sau khi vẽ xong bức chân dung thứ hai (Đức Kitô khúc quặt của lịch sử), các Kitô hữu không còn coi đức Kitô như là vị giáo chủ của đạo mình mà thôi, nhưng còn dành một chỗ đứng trong cả lịch sử của nhân loại nữa. Không những họ giải thích các lời Kinh thánh (gọi là Cựu ước) như là lời tiên báo về Ngài, nhưng họ còn muốn tìm thấy những lời ám chỉ về Ngài trong các tác phẩm văn chương triết học cổ điển nữa, tựa như thi sĩ Virgilius của Rôma (70-19 A.C.) đã nói tới ngày sinh nhật của một hài nhi con trời khai trương kỷ nguyên của trời mới đất mới: &#8220;thời đại đồng sắt nhường chỗ cho thời đại hoàng kim; địa cầu được giải thoát khỏi lo sợ&#8221; (Eclogues IV, 5-52). Những lời của thi sĩ Virgilius cũng như những lời sấm của nữ tiên tri Sibilla của dân Cuma đã được Augustinô, Giêrônimô giải thích như là loan báo sự xuất hiện của đức Kitô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra, từ thế kỷ thứ hai, Clêmentê Alexandria (tác phẩm Paedagogus, Stromata) đã cho thấy rằng đức Kitô không phải chỉ là một nhân vật lịch sử xuất hiện vào một thời điểm bên Palestina, nhưng Ngài chính là sự Khôn ngoan, Thượng Trí của Thiên Chúa, đã hiện diện với nhân loại ngay từ lúc khai thiên lập địa. Ngài chính là Lời Chân Lý; Ngài đã dùng các triết gia để dạy dỗ muôn dân. Vì thế mà Clêmentê Alexandria không gặp khó khăn gì để chấp nhận những tác phẩm của Plato đã viết về Đấng Tạo hóa, bởi vì thấy trong đó có nhiều điểm giống với Kinh thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một cách tương tự, nhà hiền triết Socrate cũng được sánh với Maisen trong vai trò dậy dỗ dân Hy lạp biết sống hợp với lý trí, khai trừ việc thờ ngẫu tượng. Thậm chí Socrate còn được ví như tiền hô cho đức Kitô, một người công chính bị hãm hại vì yêu chuộng và rao giảng chân lý. Tertullianô cũng nói tới những linh hồn tự nhiên là Kitô hữu rồi (anima naturaliter christiana). Nếu trước đây tại Athenes, thánh Phaolo đã nói tới việc người dân xứ này đang đi tìm kiếm một &#8220;Chúa vô danh&#8221; (Cv 17, 23) thì nay các tác giả Clementê Alexanđria, Tertulliano, Giustinô, Eusebiô cũng có thể nói đến những người đi tìm &#8220;đức Kitô vô danh&#8221;. Đức Kitô là ánh sáng của muôn dân, kẻ mà thiên hạ trông mong từ bao thế kỷ.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181">Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd187"></a><span style="color: #008080;">4. Vua các vua</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hồi Chúa Giêsu mới sinh ra ở Bê lem, các nhà đạo sĩ đã tới hỏi vua Hêrôđê rằng: &#8220;Vua dân Do thái mới sinh ra ở đâu ?&#8221; (Mt 2,2). Nghe câu hỏi đó, Hêrôđê giật mình lo ngại cho cái ngai của mình sẽ bị lung lay, nên đã truyền giết hết các hài nhi ở Bêlem để trừ hậu họa. Khi người Do thái điệu Chúa Giêsu ra trước tòa tổng trấn Philatô, nhằm tìm cho ra một nguyên cớ hợp pháp để xin xử tử Ngài, họ đã buộc tội rằng ông Giêsu đã tự xưng mình là Vua, và như vậy là làm loạn chống Hoàng đế Rôma. Lúc đầu, Philatô tưởng thực; vì thế ông chất vấn Ngài: &#8220;Ông có phải là vua dân Do thái không ?&#8221; (Ga 18,37). Nhưng sau khi nghe trả lời, ông không thấy Ngài là một thành phần nguy hiểm cho an ninh; tuy vậy, để chế nhạo dân Do thái, ông cũng truyền đóng bản án lên trên đỉnh thập giá : &#8220;Giêsu Nadareth, vua dân Do thái&#8221; (Ga 19,19).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng sau đó, các nhà cầm quyền Rôma không coi bản án như là đồ diễu cợt. Nhiều Kitô hữu vẫn tiếp tục tin rằng đức Kitô là Vua. Sách Khải huyền (17,14) đã tuyên xưng Ngài là &#8220;Chúa các Chúa và Vua các vua&#8221;. Dĩ nhiên, nếu họ chỉ là hạng cuồng tín hoặc mơ mộng thì không thèm chấp làm gì. Nhưng mà lời tuyên xưng ấy còn mang tới những hậu quả chính trị sâu xa hơn nhiều. Mỗi lần có lễ lạy, nhân dân Rôma phải tụ nhau tung hô Hoàng đế Cesarê là Chúa (Kyrios Kaisar) và dâng hương để tỏ lòng tùng phục; còn các Kitô hữu ương ngạnh đã từ chối, viện lẽ là họ phải trung thành với Vua Kitô. Những cuộc khảo cứu lịch sử cho thấy rằng một trong những nguyên nhân của những cuộc bách hại các Kitô hữu trong đế quốc Rôma vào những thế kỷ đầu chính là vì Nhà nước nghi ngờ lòng trung thành của họ. Hoàng Đế Rôma cho rằng các Kitô hữu không thực bụng với mình bởi vì họ đang chuẩn bị phục vụ cho Vua Kitô của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù các Kitô hữu đã giải thích rằng sự phục vụ Vua Kitô và Vương triều của Chúa không có dính dáng gì với hoạt động chính trị, nhưng nhà cầm quyền Rôma vẫn không yên tâm. Theo họ, phàm ai đã suy tôn đức Kitô là Vua thì không thể nào tận tụy hết lòng với vua Cêsarê được nữa. Đó là lý do vì sao các hoàng đế anh minh nhất của đế quốc (tựa như Marcô Aureliô và Điocletianô) lại là những người ký những sắc lệnh bách hại Kitô giáo cách dữ dội nhất. Những cuộc bách hại ấy chỉ chấm dứt với Constantinô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Theo tài liệu đương thời, Constantinô đã làm hòa với Kitô giáo vì ông đã thắng trận ở cầu Milviô nhờ dấu thập tự. Tuy nhiên, các sử gia ngày nay đã đặt nghi vấn không hiểu ông ta có thực sự trở lại đạo hay không, hoặc chỉ nhắm ý đồ chính trị khác. Thực vậy, thay vì chỉ cai trị cái xác của các Kitô hữu, Constantinô muốn cai trị cả linh hồn của họ nữa: các Kitô hữu có thể an tâm khi thấy một vua có đạo, được Chúa đặt làm vua thay mặt Ngài. Qua lễ tấn phong (đội vương miện), Constantinô và các người kế vị muốn lãnh nhận quyền hành của Vua Kitô để cai trị cả mặt đời lẫn mặt đạo. Để biểu lộ quan niệm mới về vương quyền, Constantinô dời thủ đô sang thành phố mang tên của ông (Constantinôpôli). Hoàng đế tự coi mình như thay mặt cho đức Kitô ở trần thế, kể cả trong những vấn đề nội bộ của Giáo hội (như việc xác định tín điều về đức Kitô, chống lạc giáo ariô). Quan niệm về thế quyền bao cấp Giáo hội còn tồn tại khá lâu dài bên Đông phương. Nhưng bên Tây phương thì quan niệm đó không đứng vững: quyền bính của Chúa Kitô đã được trao cho Phêrô và các tông đồ, chứ không phải cho hoàng đế. Chính Đức Giáo hoàng mới là đại diện của đức Kitô, với quyền tháo gỡ: các vua chúa trần gian lãnh nhận quyền hành nơi Đức Giáo hoàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù sao, chúng ta thấy rằng bức chân dung của đức Kitô Vua đã vô tình mang theo những ảnh hưởng không nhỏ về mặt chính trị trong lịch sử Kitô giáo.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd188"></a><span style="color: #008080;">5. Lý càn khôn – Logos (tk 4-5)</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đang khi mà các nhà chính trị còn đăm chiêu trước bức chân dung của đức Kitô Vua, thì các tư tưởng gia Kitô giáo của thế kỷ thứ 4 và thứ 5 chú trọng tới một bức chân dung khác. Công đồng Nixêa năm 325 đã tuyên bố rằng đức Kitô là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha, đã hiện hữu từ muôn thuở.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều đó đã được thánh Gioan nói tới ngay từ những dòng đầu của Phúc âm rồi: &#8220;Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa&#8221;. Thế nhưng, trong tiếng Hy lạp Logos không phải chỉ có nghĩa là &#8220;lời&#8221;, nhưng còn có nghĩa là : &#8220;lý lẽ&#8221;, &#8220;sự cấu thành&#8221;, &#8220;kế hoạch&#8221;. Như vậy, đức Kitô không những là lời mà Thiên Chúa dùng để nói với nhân loại, nhưng còn là lời tạo dựng của Thiên Chúa vào lúc khai nguyên. Vì thế mà chúng tôi xin mạn phép dịch là &#8220;lý càn khôn&#8221;, khởi điểm cho nền triết học Kitô giáo, và nói được là của khoa học hiện đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra, các triết gia Hy lạp (tựa như Platon) đã bắt đầu tư duy về nguồn gốc của vũ trụ rồi. Đức tin nơi đức Kitô Logos sẽ giúp cho triết học về vũ trụ tiến xa hơn nữa. Khi tuyên xưng rằng Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ nhờ Logos, các triết gia Kitô giáo rút ra kết luận rằng vũ trụ này không phải do ngẫu nhiên mà thành: nó đã được tạo dựng nên do một Lý trí; và nó mang trong mình cả một kế hoạch chương trình. Do đó, lý trí chúng ta cần phải cố gắng khám phá ra lý lẽ, bản chất và cùng đích của sự vật. Hơn thế nữa, Logos của Chúa đã thông ban ánh sáng của Ngài cho lý trí con người; vì thế con người cần phải biết dùng lý trí của mình để khám phá ra lý lẽ của vạn vật, chứ không nên dựa vào chiêm tinh bói toán, hay phó mặc cho số mạng may rủi. Nhờ những thâm tín ấy, Grêgoriô Nazianzênô, Basiliô Cesarêa, Grêgoriô de Nyssa đã đặt nền móng không những cho hữu-thể-học, vũ-trụ-học Kitô giáo, mà còn cho cả khoa học tương lai nữa. Thực vậy, khoa học thành hình được bởi vì dựa trên giả định là vũ trụ này vận hành theo một chương trình kế hoạch, chứ không phải như con cờ súc sắc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Việc chiêm ngắm đức Kitô Logos (Lý càn khôn) không những đã thúc đẩy lý trí con người tìm hiểu căn gốc và kết cấu của vũ trụ. Dựa trên thần học của thánh Phaolô về sự liên đới chặt chẽ giữa con người với vũ trụ (Rôma 8,19-23; 1Cr 15,20-28), Grêgôriô de Nyssa cho thấy rằng đức Kitô không những đã cứu chuộc con người, trả lại cho con người hình ảnh Thiên Chúa đã bị méo mó vì tội lỗi; nhưng đức Kitô cũng đã tái tạo vũ trụ, mang lại cho nó một hướng đi mới. Nói khác đi, nơi đức Kitô Logos (Lý càn khôn) chúng ta vừa tìm thấy nguồn gốc và ý nghĩa của vũ trụ, lại vừa tìm thấy cứu cánh tối hậu của nó nữa.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd189"></a><span style="color: #008080;">6. Con người (tk 5)</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi đọc Phúc âm, ta thấy đức Kitô nhiều lần tự xưng là &#8220;con người&#8221; (khoảng 70 lần trong nhất lãm, và 11 lần trong Gioan). Trong tiếng Do thái &#8220;con người&#8221; có nghĩa là bản chất con người dòn mỏng hay chết; vào thời của Chúa Giêsu, thì thêm tư tưởng Khải huyền về một nhân vật từ trời đến (Mt 24,27.30 // Đn 7,13-14).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội đề cao thiên tính của đức Kitô, chống lại những lạc thuyết và giáo phái chỉ coi Ngài như một ngôn sứ hay vĩ nhân không hơn không kém. Tuy nhiên, sau khi đức tin về thiên tính của đức Kitô đã được khẳng định với những hệ luận mà chúng ta đã thấy nơi những chân dung mô tả trên đây, người ta mới quay sang nhân tính của Ngài. Đức Kitô là con người: Ngài tỏ lộ cho ta thấy bộ mặt đích thực của con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có thể coi thánh Augustinô như tác giả đã nghiên cứu tâm lý con người dựa vào đức Kitô. Đường hướng này tiếp tục qua các thế hệ sau, và tầm quan trọng của sự đối chiếu ấy đã được Blaise Pascal phát biểu như sau: &#8220;Nếu chỉ biết Chúa mà không biết sự hèn mạt của con người thì sẽ đâm ra kiêu ngạo; nhưng nếu chỉ biết sự hèn mạt của con người mà không biết Chúa thì sẽ đâm ra tuyệt vọng; việc biết đức Kitô có tính cách trung dung, vì ở nơi Ngài ta vừa thấy cả sự cao cả của Chúa lẫn sự hèn mạt của con người&#8221; (Pensées 526; 421). Thánh Augustinô đã kể lại cảm nghiệm đó trong sách &#8220;Xưng thú&#8221; (Confessiones): Augustinô không hổ thẹn thuật lại những sa ngã của mình; nhưng đồng thời, nhờ gặp gỡ đức Kitô qua các thánh vịnh, Augustinô đã lĩnh nhận được sự tha thứ của Chúa. Nơi đức Kitô, Đấng vô tội nhưng đã chấp nhận thân phận con người với những thử thách cay đắng của nó, Augustinô tìm được niềm hy vọng: chính những đam mê dục vọng của con người có thể trở thành tốt. Nói cho cùng, cái động lực then chốt nơi con người là tình yêu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tùy việc lựa chọn đối tượng yêu, mà con người trở nên thánh nhân hay quỷ sống. Nhưng nhất là, nơi đức Kitô, con người dù tội lỗi đến đâu cũng có thể được tình yêu Chúa tha thứ. Đức Kitô, nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người, đã giúp Augustinô hiểu biết tâm lý con người cách sâu xa hơn. Vào thời chúng ta ở thế kỷ XX, Công đồng Vaticano II, trong hiến chế &#8220;Vui mừng Hy vọng&#8221; số 22 cũng viết rằng : “Đức Kitô đã mặc khải con người cho con người”.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1810"></a><span style="color: #ff6600;">Thời Trung Cổ</span></span></h3>
<h4 style="text-align: center;"><span style="color: #008080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1811"></a>7. Hình ảnh Thiên Chúa (tk 8-9)</span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta đọc thấy tước hiệu đức Kitô là &#8220;hình ảnh của Thiên Chúa vô hình&#8221; trong thư gửi Colossê (1,15), nhưng có lẽ Phaolô chưa mường tượng được những hệ luận của nó. Đạo Do-thái đã cấm trưng bày hình tượng của Thiên Chúa, có lẽ vì e rằng sẽ hạ giá Đấng Siêu việt xuống hàng gỗ đá. Thế nhưng, với đức Kitô, con người đã có thể nhìn ngắm dung nhan của Thiên Chúa nơi khuôn mặt của một con người. Thực ra, trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo cũng có những phong trào cấm trưng bày hình tượng Chúa, kể cả hình ảnh của đức Kitô: lý do vì đức Kitô đồng bản thể với Thiên Chúa, và không có ngòi bút nào diễn tả nổi được Thiên Chúa vô hình. Tuy nhiên, thay vì nhấn mạnh tới tính cách vô hình của Thiên Chúa, tại sao lại không nói tới việc Thiên Chúa tỏ lộ nơi đức Kitô ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Câu trả lời cho vấn nạn đã cho phép phát triển nghệ thuật Kitô giáo. Các nghệ sĩ Kitô giáo không tìm cách chụp lại chân dung của đức Kitô khi còn sống tại thế ở Palestina, nhưng họ đã cố gắng họa lại khuôn mặt của Ngài qua những biểu tượng của hết mọi nền văn hóa. Ngài tượng trưng cho Lý càn khôn cũng như cho Thiện, Mỹ trong thế giới. Khuôn mặt của Ngài phản chiếu những ánh huy hoàng của thiên tính cũng như những nét cao quý của tâm hồn trong trắng đẹp đẽ.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="color: #008080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1812"></a>8. Đức Kitô trên thập tự (tk 10-11)</span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Việc đức Kitô chịu chết trên Thập giá đã biến đổi ý nghĩa của hình khổ này: nó không còn là biểu hiệu của nhục hình nữa, nhưng trở thành căn cước của các Kitô hữu. Thánh Phaolô đã viết rằng : &#8220;Tôi không tìm thấy vinh quang ở đâu khác ngoài thập giá của đức Giêsu Kitô&#8221; (Gal 6,14). Qua dấu hiệu thánh giá đeo trong người hay vạch trên mình, các tín hữu có thể nhìn nhận các người đồng đạo của mình. Thánh giá được tôn kính và kêu cầu như nguồn sức mạnh để chiến đấu với lực lượng ma quỷ, tội lỗi, bệnh tật. Trải qua các thế kỷ, hằng bao nhiêu bài giảng và thánh ca đã ca ngợi sức mạnh và vinh quang của Thập giá, mang lại ơn cứu rỗi cho nhân loại. Ngoài đề tài &#8220;sức mạnh và vinh quang&#8221;, thời Trung cổ khai triển thêm đề tài &#8220;sự điên rồ&#8221; của Thập giá, đã được thánh Phaolô nói tới ở 1Cor 1,15: Thiên Chúa đã mạc khải sự khôn ngoan qua sự điên rồ của Thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhìn lên Thập giá, thánh Grêgoriô cả (Tk 6) đối chiếu với sự đau khổ của ông Gióp, để rồi từ đó rút ra những bài học về sự khiêm nhường, hiền lành, nhịn nhục. Thập giá trở thành một trường linh đạo dạy nhân đức cho các Kitô hữu. Nhưng chưa hết; thánh Grêgoriô còn mời gọi các tín hữu hãy tiến xa hơn nữa để khám phá ra sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Bề ngoài xem ra việc đóng đinh đức Giêsu là kết quả của một kế hoạch mà quân dữ đã toan tính; nhưng họ có ngờ đâu rằng Thiên Chúa đã dùng đó để thực thi tình thương của Ngài, qua việc trao ban Con một Ngài cho chúng ta. Các nhà thần học thời Trung cổ Abelarđô, Anselmô sẽ đào sâu hơn luận cứ ấy khi suy tư về ý nghĩa của việc cứu chuộc. Theo Anselmô, tội của chúng ta xúc phạm tới Chúa công chính vô cùng. Tuy Ngài thương yêu và sẵn lòng tha thứ cho ta, nhưng Ngài không thể nào phớt lờ sự rối loạn trật tự mà tội đã gây ra. Sự rối loạn chỉ có thể xóa bỏ qua việc đền bồi cân xứng do chính Con Chúa thực hiện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những tư tưởng thần học vừa nói đã để lại ảnh hưởng không nhỏ trên lối sống đạo của các Kitô hữu thời Trung cổ và các thế hệ kế tiếp. Thánh giá kêu gọi con người đền bồi phạt tạ vì tội lỗi của mình và tha nhân. Thánh giá kêu mời con người thực tập nhân đức khiêm nhường, kiên nhẫn, chấp nhận hy sinh vì tình yêu. Đó là chưa nói tới việc tôn kính Thập giá trong thánh đường, trong tư gia hay mang thập giá trong người. Tiếc rằng, đôi khi Thập giá chỉ nhìn thấy như biểu tượng của tình yêu hy sinh đau khổ; và ít nhắc tới biểu tượng của &#8220;quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa&#8221;.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1813"></a><span style="color: #008080;">9. Đan sĩ chinh phục thế giới (tk 11-12)</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dĩ nhiên Thập giá của đức Kitô phải trở thành mẫu gương cho tất cả những ai muốn làm đồ đệ của Ngài. Tuy vậy, từ thế kỷ thứ 6, bên Tây phương một luồng Kitô học mới đã thành hình: đức Kitô trở thành mẫu gương đặc biệt cho các đan sinh; hay nói đúng hơn: chính đức Kitô là đan sĩ tiên khởi. Ngài đã khước từ những dụ dỗ của ma quỷ muốn cai quản thế giới và đã chọn lựa con đường khắc khổ của thập tự. Bức chân dung này được tô đậm trong bản luật dòng Biển đức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra, phong trào đan tu đã ra đời từ mấy thế kỷ trước đó bên Ai cập, khi mà một số kitô hữu rút lên sa mạc để tiếp tục nhuệ khí của anh hùng tử đạo, thay vì chứng kiến cảnh nguội lạnh của một Giáo hội được chính quyền ưu đãi. Thế nhưng, không bao lâu, người ta lại thấy các đan sĩ tham dự vào đời sống của Giáo hội, đặc biệt là bên Đông phương nơi mà các Giám mục phải sống độc thân đang khi các linh mục được lập gia đình: trong tình trạng đó, tìm đâu ra người độc thân để làm Giám mục nếu không phải là trong hàng ngũ các đan sĩ ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Còn bên Tây phương, sự tham dự của các đan sĩ vào đời sống của Giáo hội và xã hội bắt nguồn từ những nguyên nhân khác. Khi đức Grêgoriô VII bắt tay vào việc cải tổ Giáo hội, thì Ngài mang ra áp dụng những biện pháp cải cách đời đan tu đã đựơc áp dụng ở Cluny, và kêu gọi các đan sĩ tiếp tay với mình. Nửa thế kỷ sau, đức Eugêniô III (thuộc dòng Xitô) lên làm Giáo hoàng và cũng theo đường lối ấy. Dù sao, thì từ lâu các đan sĩ đã được các Giáo hoàng sai đi truyền giáo nơi các miền xa xăm ở miền Bắc cũng như Đông Âu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thoạt tiên, những hoạt động tông đồ của các đan sĩ xem ra trái ngược lại với ơn gọi xa cách đời. Nhưng nói cho cùng, ơn gọi của họ không phải là bỏ đời, song là phục vụ Chúa Kitô. Luật thánh Biển đức có viết: &#8220;Không có gì được phép đặt trước tình yêu của đức Kitô&#8221; (Amori Christi nihil praeponatur). Chính tình yêu ấy đã giúp cho việc canh tân đời sống và canh tân Giáo hội vào thế kỷ thứ 11 cũng như thế kỷ kế tiếp.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181">Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1814"></a><span style="color: #008080;">10. Bạn tình của linh hồn</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào thời Trung cổ, ngoài bức chân dung của Đức Kitô-Đan sĩ đã thu hút biết bao tín hữu từ bỏ mọi sự để theo Ngài và phụng sự Chúa qua việc chiêm ngắm Lời Chúa và cử hành phụng vụ, chúng ta còn thấy một bức chân dung khác trở thành đề tài cho thần bí Kitô giáo: Ngài là bạn tình của linh hồn. Thực ra, khó xác định được thần bí Kitô giáo đã xuất hiện từ lúc nào, và do ảnh hưởng từ đâu (có người cho rằng nó chịu ảnh hưởng của thuyết tân-Platon, qua một tác giả sống ở thế kỷ thứ 5, mạo danh là Đionisiô đệ tử của thánh Phaolô). Các tác phẩm thần bí cổ điển bàn tới đời sống thần bí như là sự kết hợp với Mầu nhiệm Thiên Chúa; từ thế kỷ thứ 12, thần bí đặt trung tâm của sự kết hợp là chính Đức Kitô. Ta có thể coi thánh Bernarđô như tác giả điển hình của chiều hướng này, khi chú giải quyển Diễm ca.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sách Diễm ca (còn được gọi là: Tình ca, hay Ca đệ nhất) nguyên là một tác phẩm ca ngợi tình yêu trai gái. Nhưng người Do thái đã sớm giải thích theo nghĩa bóng, áp dụng vào mối tình giữa Thiên Chúa với Israel, mối tình lắm lần đã bị cô nàng phản bội. Vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, một vài giáo phụ (như Origène) đã áp dụng cho mối tình giữa đức Kitô với Hội thánh. Nhưng Bernađô thì lại áp dụng cho cuộc tình duyên giữa đức Kitô với linh hồn. Đức Kitô xuất hiện như người bạn tình của linh hồn. Ngài bộc lộ tình yêu qua cuộc đời của mình, vào lúc sinh ra tại Bêlem lẫn những đau đớn nhọc nhằn, đắng cay vui sướng. Đức Kitô đã đến để hôn ẵm nhân loại, dẫn đưa nó vào phòng loan, cho con người được kết hiệp với Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên đường lên tới tình yêu kết hiệp phải trải qua nhiều giai đoạn thanh luyện thử thách, ví như những nấc thang, chia thành ba giai đoạn (thanh luyện, soi sáng và kết hiệp). Tiên vàn, linh hồn cần phải được tẩy rửa cho sạch hết mọi tội lỗi và khỏi những dính bén với tính ích kỷ, khỏi những quyến luyến với vật chất xác thịt. Giai đoạn hai được gọi là soi sáng: linh hồn cần được đức Kitô khai quang để ra khỏi những mù quáng của tâm trí. Sau cùng là giai đoạn kết hiệp, khi mà linh hồn có thể sống thực lời Phúc âm (Ga 15,4): &#8220;Hãy ở lại trong Thầy và Thầy sẽ ở trong con&#8221;. Học thuyết về thần bí kết hiệp với đức Kitô được quảng bá trong nhiều đan viện, đặc biệt là phái nữ, với những tác phẩm biến họ thành những thi hào văn sĩ nổi danh vào một thời mà phụ nữ chưa được cắp sách đến trường.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1815"></a><span style="color: #008080;">11. Khuôn mẫu cho cuộc sống (tk 13-14)</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để kết thúc thời Trung cổ, chúng ta hãy chiêm ngắm một bức chân dung khác của đức Kitô do thánh Phanxicô Assisi vẽ ra. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không hiểu là Phanxicô là một họa sĩ, nhưng theo nghĩa là Phanxicô đã phác họa ra những nét mới của đức Kitô. Đức Kitô không phải là một nhân vật lồng trong bức khảm để tôn kính, hoặc một nhà hiền triết với hệ thống tư tưởng đáng cho chúng ta học hỏi nghiên cứu. Phanxicô nhìn đức Kitô với cặp mắt đơn giản hơn nhiều : Đức Kitô là một mẫu người mà chúng ta phải họa lại trong đời của mình: khuôn mẫu của một con người đơn sơ, khiêm tốn, nhưng đầy tình thương xót yêu mến tha nhân. Phanxicô nhấn mạnh tới đức Kitô như kẻ không có chỗ tựa đầu; việc đi theo Ngài mang theo sự chấp nhận khó nghèo thanh thoát. Phanxicô đã chọn lựa sự khó nghèo không phải vì coi vật chất là cái gì xấu xa bỉ ổi; ta phải nói ngược lại: Phanxicô rất yêu mến vạn vật, và gọi mặt trời mặt trăng cũng như thú vật là những anh chị em của mình. Phanxicô chọn lựa sự khó nghèo chỉ vì đức Kitô đã sống như vậy. Phanxicô muốn sống lại hết tất cả những cảnh của cuộc đời đức Kitô: từ cảnh hang đá, cho đến cảnh đóng đinh (và Phanxicô được ơn mang 5 dấu tích như Chúa).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta biết rằng sau khi Phanxicô qua đời, các con cái của Ngài chia ra nhiều phe phái trong việc giải thích đặc sủng của thánh tổ phụ, cách riêng về việc thực thi sự khó nghèo. Nhưng ảnh hưởng của Phanxicô đối với lịch sử Kitô giáo không phải chỉ giới hạn vào việc tuân giữ khó nghèo ở trong Dòng tu nhận Ngài làm tổ phụ. Ảnh hưởng quan trọng hơn cả ở chỗ Phanxicô coi Đức Kitô như một mẫu gương cần bắt chước và họa lại trong đời sống. Từ đó nảy ra luồng linh đạo đi theo Đức Kitô (sequela Christi) hoặc noi gương Đức Kitô (imitatio Christi). Linh đạo ấy không phải là cái gì nhiệm ý: tất cả Giáo hội phải đi vào con đường ấy, làm sao cho Tin mừng không phải là chữ chết nhưng là đức Kitô sống động. Mọi cuộc canh tân Giáo hội phải khởi sự từ niềm thâm tín đó, nghĩa là phải trở về với Phúc âm sống.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1816"></a><span style="color: #ff6600;">Thời Phục Hưng</span></span></h3>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1817"></a><span style="color: #008080;">12. Con người mới (tk 15-16)</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế kỷ 15-16 ở Âu châu được gọi là thời &#8220;Phục hưng&#8221; (Renaissance, rinascimento trong tiếng Ý). Lẽ ra phải dịch là &#8220;tái sinh&#8221; mới đúng nghĩa. Nguyên ngữ của nó lấy từ Phúc âm thánh Gioan 3,3 (nếu ngươi không sinh lại, &#8211; renatus -, thì ngươi sẽ không được thấy nước Chúa). Nói chung, đặc trưng của thời Phục Hưng là khôi phục lại văn chương Hylạp và Latinh cổ truyền trước đây đã bị Kitô giáo gạt ra ngoài lề: thí dụ những thi phẩm của Homero, những trước tác nguyên bản của Plato, Cicero. Về mặt tư tưởng, thì người ta đề cao giá trị của lý trí và con người, đối lại với thần học thời Trung cổ chú trọng tới đức tin và Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra, phong trào Phục hưng nảy sinh từ Kitô giáo và có ảnh hưởng không nhỏ tới Kitô giáo. Phong trào nghiên cứu các tác phẩm Hy la cổ điển cũng giúp cho thần học trở về với các nguồn (ad fontes) Hy lạp Do thái của Kinh thánh và các giáo phụ. Việc đề cao các giá trị nhân bản cũng đóng góp không ít cho thần học. Một lần nữa, đức Kitô trở nên nguồn cảm hứng của các họa sĩ, văn sĩ cũng như các triết gia và thần học của thời Phục hưng, bởi vì Ngài là con người lý tưởng. Ta có thể lấy Erasmus như một tác giả điển hình. Trong tác phẩm Enchiridion militis Christiani (Thủ bản của một hiệp sĩ Kitô giáo) xuất bản năm 1503, Erasmus đã muốn trình bày một nền triết học của đức Kitô (philosophia Christi) hay nếu nói kiểu Đông phương &#8220;đức Kitô như một hiền nhân quân tử&#8221;. Ông chủ trương rằng đức Kitô không phải là một từ ngữ rỗng tuếch: &#8220;Bạn hãy nhìn đức Kitô như là hiện thân của bác ái, bình dị, nhẫn nhục, thanh tịnh. Bạn hãy đặt đức Kitô làm mục tiêu của đời bạn. Đức Kitô là thầy dậy của sự khôn ngoan, chiếu dọi ánh sáng vào đêm tối u mê đần độn của thế gian. Đức Kitô dạy bạn biết cách sống cho nên người&#8221;.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Erasmus không ngại ngùng đối chiếu bản văn Phúc âm với những nhà hiền triết cổ điển Hy lạp như Socrate, để đưa tới kết luận rằng: việc theo đức Kitô không làm hạ giá con người, nhưng sẽ giúp con người triển nở toàn diện hơn. Thực ra, Erasmus không xướng thêm điều chi mới lạ trong lịch sử Kitô giáo. Trước đây, các giáo phụ cũng đã nhận thấy những mầm mống của chân lý nơi các tác phẩm của các nhà hiền triết ngoại đạo. Thế nhưng, các vị cho rằng Kitô giáo đã có đầy đủ chân lý rồi, vì thế hơi đâu mà nghiên cứu các nhà hiền triết ấy ! Còn Erasmus thì nghĩ ngược lại: xét vì các hiền triết có nhiều điều giống với Phúc âm, cho nên chúng ta hãy học hỏi họ để làm sáng tỏ vẻ phong phú của Phúc âm hơn. Erasmus đi trước vài tư tưởng gia của thế kỷ 20 khi cho rằng đức Kitô không thể bị gò bó trong các bức tường của Giáo hội: ngài là mẫu của con người phổ thế, con người có khả năng gặp gỡ tất cả các tôn giáo và triết học của nhân loại.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1818"></a><span style="color: #008080;">13. Bức gương trong (thời Cải cách tk 16-17)</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chủ trương của Erasmus đã bị Lutêrô phản đối kịch liệt, bởi vì thuyết nhân bản đã làm tục hóa đức tin Kitô giáo. Nhưng Lutêrô phần nào cũng là con đẻ của thuyết nhân bản, theo nghĩa là ông đề cao giá trị của quyết định lương tâm con người trước mặt Chúa, chứ không cần phải qua trung gian của quyền bính Giáo hội. Mỗi người chúng ta hãy cố gắng đối diện trực tiếp với Lời Chúa, để đáp lại bằng lòng tin mang lại ơn cứu độ. Khác với các tác giả trước đây thích nhìn ngắm những bức chân dung của đức Kitô dựa theo Phúc âm, Lutêrô chiêm ngắm đức Kitô dựa trên các thư của thánh Phaolô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Kitô của các nhà sáng lập phong trào Cải cách không phải là đức Kitô nhà hiền triết theo quan niệm của Erasmus; nhưng là đức Kitô bức gương trong phản ánh Thiên Chúa. Đối với Luterô, đức Kitô chịu đóng đinh là tấm gương phản chiếu tấm lòng hiền phụ của Thiên Chúa. Lẽ ra, chúng ta, những con người tội lỗi, đáng bị Thiên Chúa Thẩm phán tỏ oai phong để luận phạt trừng trị. Thế nhưng, đức Kitô đã chết thay cho chúng ta trên thập giá; nhờ Ngài chúng ta được trở nên công chính, và đáng được Chúa tỏ ra lòng thương xót của người cha nhân hậu. Trái với Erasmus muốn tìm hiểu sự phong phú của Tin mừng qua sự khảo cứu các tác phẩm cổ điển ngoại giáo, Lutêrô chủ trương rằng cần phải trở về học hỏi Kinh thánh để khám phá ra bộ mặt thực của Thiên Chúa: Thiên Chúa của đức Kitô khác hẳn với Thiên Chúa của các nhà triết học và các tôn giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù vậy, một cách nào đó, giữa Erasmus và Lutêrô cũng có vài điểm chung xét vì cả hai đều là con đẻ của thời Phục hưng và nhân bản. Lutêrô chủ trương phải tìm về nguyên bản của Kinh thánh bằng Do thái và Hy lạp; mặt khác, ông đã muốn dịch ra sinh ngữ để hết mọi tín hữu có thể tiếp xúc trực tiếp với Lời Chúa. Cũng trong chiều hướng ấy, Phụng vụ cũng cần phải được cử hành bằng sinh ngữ; và các nghệ sĩ của Phong trào Cải cách cố gắng hết sức để cho các tín hữu thấy đức Kitô như một vị thuộc về thời đại của mình: Ngài là hiện thân của Thiên Chúa, phản ánh của Chân lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lutêrô chú trọng tới sự gặp gỡ giữa con người với Lời Chúa bằng đức tin. Tuy nhiên theo ông, sự gặp gỡ ấy không có ảnh hưởng gì tới trật tự xã hội. Lời Chúa mời gọi chúng ta hướng tới chiều kích vĩnh cửu, chứ không liên hệ gì tới trần thế. Trái lại, Calvinô khẳng định rằng Nước Chúa không chỉ liên hệ tới lương tâm cá nhân, mà còn tới các thể chế xã hội nữa; vì thế, cả các nhà chính trị cũng cần phải áp dụng giáo huấn Tin mừng vào các luật pháp dân sự. Nói cách khác, theo Calvinô, đức Kitô không phải chỉ là phản ánh của Chân lý như Lutêrô quan niệm, nhưng còn là tấm gương phản ánh sự Thiện hảo của Thiên Chúa nữa.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1819"></a><span style="color: #008080;">14. Thái tử Hòa bình</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dĩ nhiên, trong thời cận đại, những tư tưởng nổi bật của Kitô giáo không phải chỉ tìm thấy nơi phong trào nhân bản hay cải cách. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ muốn nêu lên một vài nét nào trong bức chân dung của đức Kitô đã đánh dấu một giai đoạn của lịch sử. Như chúng ta vừa thấy, tuy đồng thời với nhau, nhưng bức chân dung của đức Kitô theo lối nhìn của Erasmus, Lutêrô và Calvinô không hoàn toàn đồng nhất. Tệ hơn nữa, phong trào Cải cách đã gây những cuộc chiến tranh tôn giáo giữa những vua chúa và hoàng thân thuộc phe Công giáo, Tin lành và hàng chục giáo phái khác. Khi phải chứng kiến những cuộc chiến tranh huynh đệ ấy, các Kitô hữu đã hướng lên đức Kitô để chiêm ngắm bức chân dung của &#8220;Thái tử Hòa bình&#8221;, một tước hiệu mà ngôn sứ Isaia (9,6) đã ám chỉ cho Chúa Cứu thế. Chiêm ngắm bức chân dung của vị Thái tử Hòa bình có nghĩa là khảo sát học thuyết của đức Kitô về Chiến tranh và Hòa bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lutêrô chủ trương rằng Tin mừng của đức Kitô không có ảnh hưởng gì tới trật tự xã hội cả. Chúa Giêsu dạy chúng ta biết yêu thương tha thứ, nhưng điều đó áp dụng cho các tư nhân, chứ không áp dụng cho các nhà cầm quyền. Dù sao, thì trong lãnh vực chiến tranh và hòa bình, các nhà thần học của nhóm Cải cách lẫn các nhà thần học công giáo chấp nhận luân lý về &#8220;chiến tranh chính đáng&#8221; (bellum iustum) đã thành hình từ thánh Tômmasô Aquinô (Summa Theol. II-II, q.40). Chiến tranh được coi là chính đáng khi hội đủ ba điều kiện: 1) do nhà cầm quyền hợp pháp khởi xướng; 2) có một lý do chính đáng; 3) với chủ ý tốt là cổ võ điều thiện và hòa bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng đó là nói trên nguyên tắc; trên thực tế có thể coi các cuộc chiến tranh tôn giáo là chính đáng hay không ? Các nhà thần học chia thành nhiều ý kiến trong việc áp dụng đạo lý cổ truyền vào những hoàn cảnh mới. Duy có nhóm &#8220;Anabapstiste&#8221; dám đi ngược dòng, tẩy chay tất cả các cuộc chiến tranh. (&#8220;Anabaptiste&#8221; là tên đặt cho một khuynh hướng cực đoan của phong trào cải cách, chủ trương chỉ ban bí tích rửa tội cho người nào đã chấp nhận đức tin; vì vậy phải loại bỏ tục lệ rửa tội cho các nhi đồng). Riêng về vấn đề chiến tranh thì họ khẳng định rằng không có cuộc chiến nào đáng gọi là chính đáng hay thánh (thánh chiến)! Người môn đệ của đức Kitô phải noi gương thầy mình, thà sẵn sàng chịu chết chứ không dùng gươm giáo để gây thiệt mạng cho đối thủ. Người môn đệ của đức Kitô dám chấp nhận cái chết như cách thức để thông dự vào cái chết và phục sinh của Thầy mình, chứ không dùng khí giới giết người khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào thời chiến tranh tôn giáo ở thế kỷ 16, ngoài nhóm Quakers ra, chẳng ai chấp nhận chủ trương của nhóm Anabapstist vì cho đó là rởm. Thậm chí họ bị các nhà thần học Cải cách và Công giáo kết án là rối đạo vì họ không tin Thiên Chúa Ba ngôi. Thật là trớ trêu khi mà có lẽ những người rối đạo ấy lại gần gũi với đức Kitô Thái tử hòa bình, hơn là những người chính-thống đằng đằng sát khí, một tay cầm thánh giá một tay cầm gươm súng. Phải chờ tới thế kỷ 20, các Giáo hội mới xét lại học thuyết chiến tranh chính đáng, và những yêu sách của Kitô hữu trong việc kiến tạo hòa bình.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181">Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1820"></a><span style="color: #008080;">15. Nhà mô phạm luân lý</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế kỷ 17 và 18 ở Âu châu được gọi là thời đại &#8220;Khai sáng&#8221; (Illumination, Enlightenment), kỷ nguyên của lý trí và khoa học. Các triết gia và khoa học gia loại bỏ hết những gì vượt quá sự kiểm chứng của lý trí. Cách riêng, khi nghiên cứu chân dung của đức Kitô, các nhà sử học lột hết tất cả những chi tiết nói tới phép lạ (bị coi là chuyện là hoang đường). Những mầu nhiệm đức tin như Thiên Chúa Ba ngôi cũng cần phải gạch vì là chuyện phi lý và chẳng ăn thua chi tới đời sống cả. Cũng không thiếu người đặt lại toàn thể vấn đề lịch sử tính của Phúc âm, thậm chí có người đặt câu hỏi: đức Kitô là nhân vật lịch sử hay là huyền thoại?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong bối cảnh tư tưởng ấy, thử hỏi có còn gì vớt vát được nơi chân dung của đức Kitô ? Thưa rằng vẫn còn; đó là bức chân dung của nhà mô phạm luân lý. Theo Friedrich August Wolf, một triết gia người Đức (1759-1824) trong tác phẩm Prolegomena ad Homerum viết năm 1795, chuyện ông Socrate là một nhân vật có thực hay giả tưởng không quan hệ; giá trị của Socrate ở tác phẩm luân lý mà ông để lại. Điều nhận xét ấy cũng có thể áp dụng vào đức Giêsu: giáo huấn về luân lý của Ngài đáng cho chúng ta để ý; còn vấn đề sử tính đâu có ăn thua gì!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bên kia bờ Đại Tây dương, ông Thomas Jefferson, tổng thống thứ ba của Hoa kỳ cũng vẽ lại bức chân dung của đức Kitô bằng cách loại bỏ hết những phép lạ vào hồi giáng sinh, trong cuộc đời công khai và Phục sinh. (Tác phẩm: The Philosophy of Jesus of Nazareth, 1804; The Life and Morals of Jesus of Nazareth extracted textually from the Gospels in Greek, Latin &amp; English, 1820). Kết quả từ bức chân dung đó là một nhà mô phạm luân lý cao thượng, một nền luân lý mà Tổng thống tin rằng tất cả các công dân của Liên bang Hoa kỳ, dù thuộc hệ phái hay tôn giáo nào, cũng có thể chấp nhận được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phải thú nhận rằng đó là bức chân dung duy nhất về đức Kitô mà không ít người Kitô hữu mang trong đầu : đức Giêsu cũng giống như đức Phật, đức Khổng. Các ngài đều dạy con người ăn ngay ở lành, tránh làm điều ác; có thế thôi.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1821"></a><span style="color: #ff6600;">Thời Hiện Đại</span></span></h3>
<h4 style="text-align: center;"><span style="color: #008080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1822"></a>16. Thi sĩ của tinh thần (Tk 19)</span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế kỷ 18 đã hạ bệ đức tin và tôn giáo, thay thế bằng tư tưởng triết học duy lý. Vì thế họ muốn đi tìm bức chân dung lịch sử của đức Giêsu, hoặc cùng lắm là an tâm coi Ngài như nhà mô phạm luân lý. Còn thế kỷ 19 thì được gọi là thời lãng mạn (romanticisme), thời của các văn hào và thi sĩ (chứ không phải của các triết gia) muốn kết hợp nội tâm với ngoại giới, kết hợp con người với thiên nhiên. Đối với họ, đức Kitô là &#8220;nhà thơ của tinh thần&#8221;, một bức chân dung có thể gặp thấy nơi Friedrich Schleiermacher (1768-1834) bên Đức, Samuel T. Coleridge (1772-1834) bên Anh và Ralph W. Emerson (1803-82) ở Hoa kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong những tác phẩm viết vào lúc cuối đời (Life of Jesus, 1819; 1864; The Christian Faith 1821-22) Schleirmacher cho rằng điều đáng chúng ta lưu ý nơi đức Giêsu không phải là các phép lạ, cũng chẳng phải là những giáo huấn luân lý, song là ý thức về mối liên hệ với Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đi xuống chiều sâu thẳm nhất của tâm khảm con người, và từ nơi đó đã vạch ra chiều kích siêu việt của ý thức, nghĩa là hướng thượng tới Thiên Chúa. Nơi đức Giêsu, biên cương giữa đất với trời đã bị xóa bỏ: Ngài là biểu hiệu của những gì cao thượng đẹp đẽ nhất của nội tâm con người, những gì mà chỉ có thể diễn tả qua các tác phẩm của các nhà họa sĩ thi sĩ, chứ không thể phát biểu bằng tư tưởng triết học được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Emerson (An Address, 1838) thì cho rằng mầu nhiệm Ba ngôi Thiên Chúa (Cha Con và Thánh Thần) có thể phát biểu như là Chân / Thiện / Mỹ: biết / làm / nói. Duy có nhà thơ mới có khả năng diễn tả nói lên cái đẹp. Thế giới này quả là đẹp; bàn tay nào làm ra nó chắc phải là Đấng Tuyệt mỹ: Đức Kitô, Ngôi lời Tạo dựng phải là nhà thơ tuyệt mỹ! Emerson tố cáo các Giáo hội vì đã bày đặt ra tín điều và luật lệ; và như thế là đã thu hẹp chân dung của đức Kitô lại, thay vì để cho Ngài đồng hóa với tất cả những gì là chân &#8211; thiện &#8211; mỹ trong cõi lòng mỗi người và trong vũ trụ. Thay vì giảng về các bổn phận và nghĩa vụ, tại sao không ca ngợi sự đẹp đẽ, vui tươi? Chính trong tâm tình, trong nhà thơ của tinh thần mà bạn gặp thấy đức Kitô, chứ không phải qua các tín điều, các luận cứ khách quan về sử tính mà bạn biết Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra, không phải chỉ có Giáo hội công giáo mới cảnh cáo Schleiermacher vì nguy cơ rơi vào thuyết duy tâm chủ quan; các tác phẩm của ông cũng bị tẩy chay về phía những nhà thần học Tin lành cỡ Karl Barth. Tuy nhiên, không thể phủ nhận được rằng nhiều người đã tìm gặp đức Kitô không phải qua các tín điều hay tác phẩm thần học, nhưng là qua con đường của nội tâm, của những nỗi vui buồn sướng khổ, qua những xúc động gây ra bởi những biến cố thiên nhiên hay lịch sử. Tưởng cũng nên biết là vào cuối thế kỷ 19 bên Nga, văn hào Dostoesvky (1821-1881) trong cuốn tiểu thuyết tựa đề &#8220;Các anh em Karamazov&#8221; đã thuật lại rằng chính đức Giêsu đã bị Pháp đình Giáo hội bỏ tù vì tội rối đạo khi giảng dạy về sự tự do thay vì bảo vệ trật tự.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="cd1823"></a><span style="color: #008080;">17. Nhà giải phóng (Tk 20)</span></span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong thư gửi các tín hữu Galata (3,28; 5,1), (một trong những tác phẩm đầu tiên của Tân ước), thánh Phaolô đã viết như sau: &#8220;Không còn người Do thái hay người Hy lạp nữa, không còn người nô lệ hay người tự do nữa, không còn đàn ông đàn bà nữa; bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong đức Kitô Giêsu &#8230; Đức Kitô đã giải phóng chúng ta, cho chúng ta được tự do; đừng ai chui đầu vào tròng nô lệ nữa&#8221;. Trải qua dòng lịch sử, khi nghe đọc những lời ấy, các Kitô hữu thường chỉ hiểu theo nghĩa thiêng liêng, áp dụng vào tình trạng nô lệ và giải phóng khỏi tội lỗi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thế nhưng sang thế kỷ 17, nhiều người đã muốn áp dụng vào việc cải tổ xã hội nữa. Trước tiên là vấn đề nô lệ. Cả phe đòi bãi bỏ lẫn phe đòi duy trì chế độ nô lệ đều nại vào Sách thánh để biện minh lập trường của mình. Dĩ nhiên, ai đòi hủy bỏ chế độ nô lệ thì có thể trưng dẫn những câu vừa nói trong thư gửi Galat. Còn những ai muốn duy trì chế độ thì trưng dẫn thư gửi cụ Philêmôn xin cụ tiếp nhận Onêsimô; đàng khác, Chúa Giêsu đâu có muốn làm cách mạng xã hội: Ngài đến thế gian để mang Nước Chúa ngự trị trong tâm hồn con người cơ mà!. Cuộc tranh luận này đã kéo dài hằng thế kỷ, không những diễn ra trong các nhà thờ, các lớp học mà cả trong các tòa nhà lập pháp ở Âu châu và Mỹ châu; nhưng chẳng nhúc nhích được bước nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào cuối thế kỷ 19, một quyển tiểu thuyết xuất bản bên Nga của Lêo Tostoi (1828-1910) mang tựa đề Phục sinh (Resurrection, 1899) đã đánh dấu một giai đoạn mới. Đức Kitô chịu chết trên thập giá được nhìn như biểu hiệu của một nhà giải phóng xã hội. Tolstoi tự hỏi : “Giả như chúng ta thực hành các lời Chúa Giêsu giảng trên núi, thì bộ mặt của xã hội đã thay đổi tới mức nào rồi ?” Trong khi mà có người tố cáo rằng tôn giáo là &#8220;thuốc phiện mê dân&#8221;, Tolstoi vặn lại rằng: “Muốn biết có phải là thuốc phiện hay không thì cứ thử áp dụng lời của Chúa Giêsu &#8220;đừng lấy ác báo ác ; nếu ai tát vào má phải của anh, thì giơ luôn má trái cho họ vả tiếp&#8221; (Mt 5,39).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tolstoi viết một cuốn tiểu thuyết chứ không phải là một nghị luận thần học hay chính trị. Thế nhưng không hiểu làm sao nó đã lọt vào tay của Mohandas Gandhi (1869-1948), một luật sư trẻ tuổi Ấn độ nhưng làm việc ở Nam Phi. Gandhi mang ra áp dụng thuyết gọi là &#8220;đối kháng bất bạo động&#8221; (militant non-violence). Cả Tolstoi lẫn Gandhi đều nhìn thấy nơi đức Kitô bức chân dung của một nhà giải phóng đã bị quên lãng từ 19 thế kỷ qua. Đức Kitô không phải là nhà giải phóng bằng gươm giáo, quyền hành vũ lực, nhưng là qua con đường của thập tự. Sau một thời gian hoạt động ở Nam phi, Gandhi trở về Ấn độ lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc khỏi chế độ thuộc địa của người Anh. Điều trớ trêu là Gandhi không phải là một Kitô hữu, nhưng lại muốn đem phương pháp bất bạo động của Phúc âm để chống lại chế độ thuộc địa của người Anh, một nước tự nhận là Kitô giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bài học của Gandhi được truyền qua Hoa kỳ, tới các mục sư da đen như Howard Thorman, Mordecai Johnson, và nhất là Martin Luther King: họ muốn trung thành làm môn đệ đi theo đức Kitô trên con đường giải phóng đồng loại bằng thập giá. Trái với những người cho ông là khờ dại, Martin Luther King (1929-68) kiên trì áp dụng kế hoạch cách mạng bất bạo động, cách mạng dựa trên tình yêu và hy vọng, trong cuộc tranh đấu đòi cho người da đen cũng được đối xử bình đẳng như các công dân khác. Gandhi và Luther King đã bị những người quá khích ám hại. Nhưng không ai chối được hậu quả của sách lược tranh đấu bất bạo động của các ông, noi gương đức Kitô nhà giải phóng nhân loại.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h4 style="text-align: center;"><span style="color: #008080; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1824"></a>18. Đức Giêsu Vũ Hoàn</span></h4>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào cuối thế kỷ 20, Kitô giáo đã có mặt khắp cùng thế giới. Lịch sử của sự bành trướng Kitô giáo không thiếu lần đã bị trà trộn với lịch sử bành trướng của các đế quốc Âu châu. Vì vậy mà nhiều người lầm tưởng rằng đức Kitô là người Âu châu, và Kitô giáo được đồng hóa với văn minh kỹ thuật Âu Tây. Từ đó, người ta nghĩ rằng chấp nhận đức Kitô có nghĩa là chấp nhận tất cả tư tưởng văn minh của người Âu châu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những bức chân dung của đức Kitô được trình bày trên đây đã cho thấy rằng không thể nào đồng hóa đức Kitô hay Kitô giáo với văn minh của Âu châu, mặc dù không thể chối được những ảnh hưởng hỗ tương. Dù sao, thì vào cuối thế kỷ 20, công đồng Vaticano II đã khẳng định rằng Kitô giáo không gắn liền với một nền văn hóa nào hết; Kitô giáo có khả năng nhập thể vào hết các nền văn hóa, và tiếp thu những tinh hoa của tất các nền văn hóa của nhân loại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cuộc đối thoại với các nền văn hóa không những giả thiết việc diễn tả đức Kitô với những nét vẽ của nghệ thuật dân tộc, dịch Tân ước ra các ngôn ngữ của các dân tộc; nhưng mà còn phải đem đức Kitô đến gặp con người thời đại giữa bao nhiêu vấn đề hiện sinh của họ: đói kém, bệnh tật, dốt nát, bất công, khắc khoải lo âu !</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Như chúng ta đã thấy, trải qua dòng lịch sử, nhiều người đã gặp đức Kitô bên ngoài biên cương của Kitô giáo. Chắc chắn rằng điều đó vẫn còn tái diễn trong thời đại của chúng ta và trong tương lai. Trong khi đó, các nhà thần học tiếp tục nghiên cứu về mối tương quan giữa đức Kitô với các tôn giáo lớn trên hoàn cầu. Không thiếu lần có người nêu câu hỏi : một người ấn giáo có thể chấp nhận đức Kitô mà không cần phải trở lại Kitô giáo hay không?</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<hr />
<p>&nbsp;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a name="Cd1825"></a><span style="color: #008080;">Kết Luận</span></span></h3>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đến đây, chúng tôi xin kết thúc loạt bài trình bày các bức chân dung của đức Kitô trải qua các thời đại, dựa theo tác phẩm của Jaroslav Pelikan. Dù muốn dù không, thế nào sự trình bày cũng chủ quan và thiếu sót. Còn biết bao bức chân dung khác nữa, biết bao tác giả điển hình khác nữa chứ !</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, để kết luận, thiết tưởng rằng điều quan trọng ở chỗ mỗi người Kitô hữu dám đặt cho mình câu hỏi: còn phần tôi, tôi mang bức chân dung nào của đức Kitô trong đầu ? Bức chân dung nào đã điều khiển những tư tưởng, tâm tình và hoạt động của tôi ? Hơn nữa, một câu hỏi tiếp cũng cần được gợi lên: phải làm thế nào để trình bày chân dung sống động của đức Kitô cho đồng bào của tôi hôm nay ? Đó là những câu hỏi được đặt ra vào lúc Giáo hội khi cử hành năm thánh đánh dấu 2000 năm biến cố đức Kitô giáng sinh, cũng như khi bước vào thiên niên kỷ mới.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em><strong><a href="http://www.lamhong.org/18-chan-dung-dkt-8433-10-2012/#Cd181"> Về mục lục</a></strong></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #666699;"><strong>________________________</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/10/Chua-Giesu-giang-day.jpg"><img class="aligncenter  wp-image-8434" title="Chua-Giesu-giang-day" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/10/Chua-Giesu-giang-day-264x300.jpg" alt="" width="5" height="6" /></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2012/10/03/18-chan-dung-dkt/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Để hưởng ứng “Nhận định&#8221; của Uỷ ban Công lý và Hoà bình</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2012/05/21/d%e1%bb%83-h%c6%b0%e1%bb%9fng-%e1%bb%a9ng-nh%e1%ba%adn-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-u%e1%bb%b7-ban-cong-ly-va-hoa-binh/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2012/05/21/d%e1%bb%83-h%c6%b0%e1%bb%9fng-%e1%bb%a9ng-nh%e1%ba%adn-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-u%e1%bb%b7-ban-cong-ly-va-hoa-binh/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 21 May 2012 01:13:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DangTrinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo huấn xã hội Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Công lý]]></category>
		<category><![CDATA[giám mục]]></category>
		<category><![CDATA[hòa bình]]></category>
		<category><![CDATA[Hội đồng]]></category>
		<category><![CDATA[hưởng ứng]]></category>
		<category><![CDATA[nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[tiếng nói]]></category>
		<category><![CDATA[tình hình]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=6356</guid>
		<description><![CDATA[VRNs (20.05.2012) &#8211; Minnesota, USA – Tuy đang ở nước ngoài, đêm nào tôi cũng... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2012/05/21/d%e1%bb%83-h%c6%b0%e1%bb%9fng-%e1%bb%a9ng-nh%e1%ba%adn-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-u%e1%bb%b7-ban-cong-ly-va-hoa-binh/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>VRNs (20.05.2012) &#8211; Minnesota, USA – Tuy đang ở nước ngoài, đêm nào tôi cũng bỏ ra hằng mấy giờ để theo dõi tin tức trong nước. Nhìn vào đâu cũng thấy bức xúc, từ những khó khăn về kinh tế tài chính đến những bất ổn trong xã hội, từ những tệ nạn của thời cuộc đến cơn khủng hoảng tinh thần, văn hóa, nhân văn, kể cả cơn khủng hoảng tâm linh đang thách đố các tôn giáo. </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/05/Lm_VuKhoiPhung.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-6357" title="Lm_VuKhoiPhung" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/05/Lm_VuKhoiPhung.jpg" alt="" width="400" height="290" /></a>Càng bức xúc lại càng cảm thấy trân trọng từng lời nói, từng hành động, từng thái độ của những ai có tâm hồn, và có can đảm đứng lên đương đầu với các tiêu cực nhằm duy trì và xây dựng một xã hội nhân ái. Trong tâm trạng đó, tôi lấy làm mừng được đọc “<a href="http://conglyvahoabinh.org/nhan-dinh-ve-mot-so-tinh-hinh-tai-viet-nam-hien-nay-2012-1912/" target="_blank"><span style="color: #000000;"><em>Nhận định một số tình hình tại Việt Nam hiện nay</em></span></a>” của Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam ngày 15/5/2012 vừa qua.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ dăm năm nay, trong nước cũng như ngoài nước, có những dư luận tiêu cực, đôi khi được bày tỏ một cách rất nặng lời, về Giáo Hội Việt Nam. Khá nhiều người cho rằng Giáo Hội Việt Nam, và đặc biệt là hàng giáo phẩm, chỉ lo lễ bái và xây cất, mà dần dần trở nên xa lạ và vô cảm với những nhân tố đang đục khoét, đang lũng đoạn tinh thần và tâm linh của xã hội Việt Nam. Chúng ta không câm nhưng cam tâm làm giáo hội thầm lặng. Có người dùng đến từ “<em>chó câm</em>”, nghe rất xấc xược, nếu chúng ta không kịp nhớ lại rằng đó là một điển Thánh Kinh (Is 56, 10), mới đây còn được Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI dùng lại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dư luận như thế, nếu không đúng, thì cũng rất tai hại cho thanh danh và mức độ khả tín của Giáo Hội, còn nếu đúng thì lại càng tai hại bội phần, bởi nó tố cáo một tình trạng muối đã lạt, đèn đã tàn. Kinh nghiệm cho thấy rằng mỗi khi Giáo Hội trở nên vô cảm như vậy, tức là đánh mất sự sáng suốt, sự can đảm trong nhận thức và hành động trước những nhu cầu có thực của thời đại mình thì luôn tạo ra trong lòng mình những trái bom nổ chậm, một hai thế hệ qua đi sẽ thấy cơ thể Giáo Hội bị đục rỗng không ngăn ngừa nổi. Trong lịch sử không thiếu gì những giáo hội cũng đông, cũng sốt sắng, cũng “ngoan ngoãn” như Giáo Hội Việt Nam. Vậy mà với thời gian, ngày nay nhà thờ vắng hoe, thế hệ trẻ thì trơ tráo chẳng còn hiểu biết gì về một quá khứ đã tạo dựng nên văn hóa và tâm linh mà ngày nay không còn biết kế thừa. Nguyên nhân của những tình trạng sa sút đó thì có nhiều, nhưng có một nguyên nhân không bao giờ thiếu bóng, đó là vào một lúc nào đó, giáo hội đã tự cô lập mình với những vấn đề và thao thức của thời đại mình đang sống. Nếu những lời chỉ trích kia là đúng thì Giáo Hội Việt Nam phải hết sức cảnh giác, đừng đi vào vết xe đổ đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bản <em>Nhận Ðịnh</em> của Ủy Ban Công Lý Hòa Bình rõ ràng mang dấu ấn của một công trình tập thể, có tác dụng cải chính luồng dư luận tai hại về một thái độ vô tri hoặc vô cảm của Giáo Hội và hàng giáo phẩm. Nó cho thấy các đấng bậc vẫn quan tâm đến vận mệnh con người, xã hội, đất nước, mặc dù trong nhiều trường hợp chẳng biết vì nguyên nhân nào các ngài đã yên lặng đến mức khó hiểu. Bản <em>Nhận Ðịnh</em> đã lần lượt điểm qua tình hình trong các lãnh vực về nền kinh tế Việt Nam, luật đất đai, môi trường xã hội, pháp luật, chủ quyền quốc gia về biên cương và hải đảo, môi trường sinh thái, vai trò của trí thức, giáo dục và y tế, tôn giáo. Trong mỗi lãnh vực, có nhìn nhận những thành tựu, nhưng chủ yếu là vạch rõ, nhiều lúc bằng những ngôn từ mạnh, các mặt tiêu cực bệnh hoạn đang làm cho đất nước lâm nguy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một điều có ý nghĩa là bản <em>Nhận Ðịnh</em> đề ngày <em>“15 tháng 5 năm 2012, kỷ niệm 121 năm Thông Ðiệp Rerum Novarum”</em> Bức thông điệp của Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII được coi như mở đường cho các đường lối, chủ trương và hoạt động xã hội của người Công Giáo từ hơn một thế kỷ nay (Năm ngoái trong Giáo Hội đã có nhiều sinh hoạt để đánh dấu tròn 120 năm ngày công bố thông điệp này; dĩ nhiên <em>Rerum Novarum</em> còn được bổ túc và triển khai liên tục bởi các thông điệp khác sau này, cũng thường được công bố vào các ngày kỷ niệm 15/5, để cập nhật với những biến chuyển của xã hội). Như vậy là khi chọn ngày 15/5 để đưa ra bản <em>Nhận Ðịnh</em>, Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình của Hội Ðồng Giám Mục đã có ngụ ý kêu gọi Dân Chúa dấn thân phục vụ xã hội ngay trong các lãnh vực mà xã hội chúng ta đang mắc phải những “căn bệnh trầm kha”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Giá trị của bản <em>Nhận Ðịnh</em> là ở chỗ nó là tiếng nói của Hội Ðồng Giám Mục, chứ không phải là ý kiến của cá nhân hoặc một tập thể riêng lẻ nào trong giáo hội. Giáo sĩ lẫn giáo dân có thể học hỏi nó mà không có cảm giác ngờ ngợ sợ mình bị những tham vọng hoặc ý đồ nào lôi kéo. Cái cảm giác ngờ ngợ đó nhiều khi chẳng dựa trên một cơ sở cụ thể nào, chỉ sợ bóng sợ vía thế thôi, nhưng cũng đủ để làm cho nhiều người co cụm, không dám suy nghĩ gì, cũng không dám có thái độ hay hành động gì trước những nguy cơ của thời đại. Lần này thì chẳng những an tâm mà còn được giáo quyền chỉ cho thấy những nhiệm vụ đang mời gọi mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có được bản <em>Nhận Ðịnh</em> là quý. Nhưng dĩ nhiên vấn đề là đã nhận định như thế rồi thì ta phải làm gì? <em>Nhận Ðịnh</em> có gợi ý một vài điều: sửa đổi luật đất đai, thay đổi lề lối làm việc và lối áp đặt độc đoán của chính quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân năng động, trọng dụng nhân tài, cho các tôn giáo được có tư cách pháp nhân và được tham gia vào các lãnh vực giáo dục và y tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy những đề xuất và giải pháp dù hay, dù tốt đẹp thì tự thân cũng chẳng lay chuyển được sức ỳ của những thói quen thủ cựu, trừ phi những đề xuất ấy được cả một cộng đồng đông đảo tiếp nhận, cổ võ, vận động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vả lại một vài đề xuất tiêu biểu ấy không thể bao biện hết muôn vàn vấn đề cụ thể mà người dân gặp và phải xử lý thường xuyên. Bản <em>Nhận Ðịnh</em> đã nêu lên một tinh thần, còn trong hành động thì vẫn luôn cần đến sự năng động của “xã hội dân sự”. Chẳng biết những nhóm học hỏi giáo huấn xã hội của Giáo Hội, các nhóm hoạt động phục vụ xã hội, các người Công giáo đang dấn thân trong các sinh hoạt đa dạng của cộng đồng có tiềm năng góp phần tạo nên cái xã hội dân sự đó hay không? Phải chăng các giáo xứ, hội đoàn, các nhóm thân hữu cũng nên ngồi lại với nhau để cùng nghiên cứu, suy nghĩ, và gầy dựng những sáng kiến mới? Trên cái nền chung như <em>Nhận Ðịnh</em> đã phác họa, không khó để có thể nhận ra còn biết bao vấn đề cần những sáng kiến và giải pháp cụ thể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ví dụ: đúng là hiện nay nhà thờ mở cửa, đông đúc, và như thế cũng bảo đảm một phần quyền tự do tôn giáo hiểu theo nghĩa là phụng tự, kinh nguyện; nhưng nếu đức tin đẩy ta đến chỗ phải có thái độ về những chuyện liên quan đến công bình xã hội, nhân phẩm, nhân quyền thì sao? Ðối với ta, tự do sống đạo bao gồm cả những lãnh vực đó nữa, nhưng có người sẽ bảo những lãnh vực đó không phải là tôn giáo thì sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Rồi trong một tình trạng xã hội mà sự thật hay bị che giấu, bị tô vẽ biến dạng, thì ta phải làm sao để phục vụ chân lý? Khiêm tốn nói thật thế nào? Thẳng thắn nói thật thế nào? Tự do nói thật thế nào? Cùng với nạn phủ nhận sự thật, sự sử dụng bạo lực thay cho lẽ phải có khuynh hướng gia tăng trong xã hội, nạn nhân là những dân nghèo, thấp cổ bé miệng, những người lương thiện, tâm hồn ngay thẳng, nhưng có lòng mà không có quyền. Vậy thì làm thế nào để bất bạo động mà vẫn không chấp nhận, không khuất phục, vẫn đối đầu, vẫn bài trừ, vẫn khắc phục bạo lực? Làm thế nào để cảm thông, để đón tiếp cho phải đạo những người nghèo, người bị áp bức, người cô đơn đau khổ không phân biệt tôn giáo hay chính kiến theo đúng tinh thần của Tám Mối Phúc, để cho đức Bác Ái đừng là một lý thuyết vô cảm và vô bổ, v.v&#8230; Quả là không thiếu gì những câu hỏi khiến ta không thể thụ động và lười biếng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chỉ có như thế ta mới có thể cùng với mọi người thiện chí tạo ra một động lực thăng tiến xã hội. Cũng chỉ có như thế ta mới thành môi trường gặp gỡ và cảm thông, thành một chốn gia đình cho bao nhiêu người thiện chí, cho những người nghèo, những nạn nhân của các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, những ai đang cần liên đới, cần tình người, cần hy vọng… Ðó cũng là một nỗ lực để ta mở một con đường đẹp cho Giáo Hội đi tới tương lai.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #800000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Lm Matthêu Vũ Khởi Phụng C.Ss.R.</strong></span></p>
<div style="text-align: justify;" align="right">
<hr align="right" size="2" width="40%" />
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: symbol; font-size: medium;"><strong>Nguồn:</strong> <em>chuacuuthe.com</em></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2012/05/21/d%e1%bb%83-h%c6%b0%e1%bb%9fng-%e1%bb%a9ng-nh%e1%ba%adn-d%e1%bb%8bnh-c%e1%bb%a7a-u%e1%bb%b7-ban-cong-ly-va-hoa-binh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thần học về Thập giá</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2012/03/17/th%e1%ba%a7n-h%e1%bb%8dc-v%e1%bb%81-th%e1%ba%adp-gia/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2012/03/17/th%e1%ba%a7n-h%e1%bb%8dc-v%e1%bb%81-th%e1%ba%adp-gia/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 17 Mar 2012 02:56:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>hoctran</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Suy tư - Chia sẻ]]></category>
		<category><![CDATA[kinh thánh]]></category>
		<category><![CDATA[thần học]]></category>
		<category><![CDATA[thập giá]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=5164</guid>
		<description><![CDATA[Trải qua lịch sử Kitô giáo đã có nhiều lý thuyết thần học về Thập... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2012/03/17/th%e1%ba%a7n-h%e1%bb%8dc-v%e1%bb%81-th%e1%ba%adp-gia/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trải qua lịch sử Kitô giáo đã có nhiều lý thuyết thần học về Thập giá, bắt nguồn từ những đường lối suy tư và chiêm ngắm khác nhau khi đứng trước Thập giá. Không ai chối cãi được sự quan trọng của Thập giá đối với Kitô giáo. Không những các Kitô hữu đeo ảnh Thập giá trên người để tỏ lòng mộ mến hay để tỏ ra căn cước của mình, mà thậm chí người không Kitô giáo cũng coi Thập giá như là biểu tượng của Kitô giáo. Chính vì thế mà tổ chức từ thiện “Hội Chữ Thập đỏ” đã bị các nước Hồi giáo bắt sửa lại phù hiệu thành “vầng trăng đỏ” để tránh lẫn lộn công tác nhân đạo với Kitô giáo. Mặt khác, nhiều người Kitô hữu đã gắn liền Thập giá với sự hy sinh, và họ có cảm tưởng rằng không còn gì khác để nói ngoài đề tài đó. Cảm tưởng đó chỉ đúng một phần, theo nghĩa là từ hai mươi thế kỷ nay, mỗi lần nói tới Thập giá thì không thể nào tránh được vấn đề đau khổ. Tuy nhiên, ngoài đề tài đau khổ ra còn có những khía cạnh khác nữa. Một điểm đáng ghi nhận khác là tuy rằng đã có nhiều suy tư về ý nghĩa của Thập giá trải qua suốt lịch sử Kitô giáo, nhưng mãi tới thập niên 70 của thế kỷ này, mới nảy ra một ngành thần học mang tựa đề là “Thần học về Thập giá” (staurologia), theo nghĩa là Thập giá trở thành trung tâm của thần học: chính nhờ Thập giá mà chúng ta biết được khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/thanhgia.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5165" title="thanhgia" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/thanhgia.jpg" alt="" width="400" height="298" /></a>A</strong>.<strong>THẦN HỌC KINH THÁNH VỀ THẬP GIÁ </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong phần này, xin đề cập đến 3 vấn đề:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>1. Thập giá trong khung cảnh lịch sử của nó. </em><em><br />
2. Bốn tác giả Phúc âm đã nghĩ gì về việc Đức Giêsu phải chịu chết trên Thập giá. </em><em><br />
3. Thần học của Thánh Phaolô về Thập giá. </em><em></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>I</strong>. <strong>Nhục hình Thập giá</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào thời của Đức Giêsu, Thập giá tiên vàn là một nhục hình. Trong đế quốc Rôma, Thập giá là một hình phạt dành cho các tội trọng. Tội nhân thường bị đánh đòn, và sau đó phải vác thanh ngang tới pháp trường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có hai hình thức Thập giá. Một thứ giống như chữ T (thanh ngang được chồng lên chóp của cây gỗ đứng); một thứ giống hình chữ thập, với bản án ghi vào ở trên thanh ngang. Thêm vào đó, cũng có nhiều kiểu để treo tử tội: thường là bị lột hết áo xống, và bị cột hoặc đóng đinh vào khổ giá, có khi đầu bị dốc ngược xuống đất. Nói chung, đây là một hình phạt chỉ dành cho lớp bần đinh hoặc nô lệ, các tên đại tặc hay là phiến loạn; các công dân Rôma không phải chịu hình phạt này trừ khi nào họ đã bị tước đoạt quyền công dân. Ngoài sự đau đớn do cuộc hành hình gây ra, hình phạt Thập giá còn mang thêm tính cách ô nhục: tử tội không được an táng, nhưng phải phơi thây giữa trời làm mồi cho chim muông dã thú. Vì tính cách nhục nhã như vậy nên không ai muốn làm anh hùng bằng cái chết trên Thập giá. Cũng vì lý do đó mà việc tôn kính Đức Kitô trên thập tự là cả một chuyện điên rồ hèn hạ, không những thánh Phaolô đã viết như vậy trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô vào khoảng 20 năm sau biến cố xảy ra, mà rồi một thế kỷ sau đó (khoảng 150-153) trong quyển sách “Hộ giáo” (Apologia I, 13,4), thánh Giustinô còn ghi nhận rằng: dân ngoại coi chúng tôi là bọn khùng bởi vì đã tôn tên tử tội trên Thập giá là Đấng Tạo dựng đất trời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>II</strong>. <strong>Từ tường thuật hình khổ Thập giá tới suy niệm về ý nghĩa Thập giá dựa theo bốn tác giả Phúc âm</strong>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Việc Đức Giêsu chết trên Thập giá là một biến cố lịch sử, được tất cả bốn tác giả Phúc âm thuật lại; biến cố đó cũng được ghi chép nơi các sử gia Rôma (như Tacitus, Annales XV, 44-45) và Do Thái (Josephus Flavius, Antiquitates Judaicae XVIII, 64). Những người hoài nghi về sử tính của Phúc âm thì chỉ nêu nghi vấn chung quanh những đoạn viết về lời giảng hay về phép lạ của Đức Giêsu, chứ không hề đụng tới câu chuyện chết trên Thập giá. Các Kitô hữu cũng không hổ thẹn gì để chấp nhận sự kiện thầy mình đã bị xử án giống như các tên trộm cướp. Thậm chí M. Kaeler cho rằng lúc đầu Phúc âm là bản tường thuật về cuộc tử nạn của Đức Giêsu trên Thập giá, rồi về sau người ta mới thêm một phần dẫn nhập để giải nghĩa lý do gì đã đưa tới sự cố đó. Dù những giả thuyết về tiến trình sự hình thành của bốn Phúc âm thế nào đi nữa, một điều rõ ràng mà chúng ta nhận thấy là tất cả bốn thánh sử đều khá đồng nhất khi thuật lại cuộc tử nạn của Đức Giêsu, với ba hồi chính:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>* Ngài bị bắt;</em><em><br />
* Bị xét xử;</em><em><br />
* Bị đóng đinh. </em><em></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1. Trong hồi thứ nhất (xức dầu ở Betania, tiệc ly, hấp hối trong vườn cây dầu), chúng ta thấy rằng Đức Giêsu đã biết và đã báo trước điều sắp xảy ra cho mình, và giải thích lý do và ý nghĩa của nó: điều đó cần phải xảy ra để hoàn tất sứ mạng. Tuy bề ngoài Ngài bị bắt nhưng kỳ thực là Ngài đã được trao nộp theo chương trình của Chúa Cha.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">2. Hồi diễn thứ hai diễn ra ở hai tòa: Do thái và Rôma, kết thúc với án tử hình được thi hành ngay tức khắc. Các thánh sử đều quả quyết rằng bản án đó bất công vì Đức Giêsu không có tội tình gì hết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">3. Hồi thứ ba gồm có việc đóng đinh vào Thập giá, chết và an táng. Giọng văn kín đáo, gọn gàng, không có những chi tiết lâm ly bi đát.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nên biết thêm là ngoài những chương thuật lại cuộc Tử nạn, Phúc âm ít khi nói tới Thập giá. Xem ra các Kitô hữu đầu tiên chấp nhận việc Đức Giêsu chịu đóng đinh vào Thập giá như một sự kiện đã xảy ra, nhưng họ ngượng ngùng khi nhắc tới chuyện kinh hoàng ô nhục đó. Họ tìm cách lục lọi các bản văn Kinh Thánh (mà ta gọi là Cựu ước) để tìm hiểu lý do và ý nghĩa của nó trong chương trình của Thiên Chúa: tại sao Thiên Chúa lại để cho Đức Giêsu bị trao nộp và chết cách thảm thương như vậy? Vì thế, dần dần các tín hữu ít nghĩ tới chính cây Thập giá cho bằng suy gẫm nhiều hơn về việc Đức Kitô chết trên Thập giá. Nói khác đi, các thánh sử không chú trọng tới cây Thập giá xét trong toàn thể sứ mạng của Ngài. Việc đóng đinh trên Thập giá chỉ là một hồi trong tấn kịch dài hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Matthêu và Marcô trình bày Đức Giêsu như một người hoàn toàn công chính đã bị bắt bớ và bị hãm hại vì sứ mạng của mình. Việc thiết lập bí tích Thánh thể (được đặt ở hồi thứ nhất của cuộc tử nạn) đã trình bày ý nghĩa cái chết của Đức Giêsu như là sự trao hiến mạng sống của mình cho người anh chị em. Kế đó, người công chính đã lần lượt bị các bạn hữu của mình bỏ rơi, bị những người đồng đạo Do thái xét xử và nộp cho quân Rôma để bị giết. Hơn thế nữa, (Mt 27,46) và (Mc 15,34) còn nhấn mạnh tới việc Đức Giêsu bị bỏ rơi trên thập tự: “<em>Chúa ơi, Chúa ơi, tại sao Chúa bỏ con?</em>”. Đã có nhiều giải thích khác nhau về ý nghĩa của lời than ấy, chẳng hạn như: đó là tiếng kêu tuyệt vọng, tiếng kêu phản kháng, hoặc chỉ bộc lộ tình trạng tối tăm trong tâm hồn vì không thể hiểu được đường lối của Thiên Chúa. Dù sao thì Thiên Chúa vẫn thinh lặng; hay nói đúng hơn, Thiên Chúa đã trả lời qua sự thinh lặng. Thực vậy, vào lúc mà tối tăm bao trùm khắp mặt đất, ra như vùi lấp hết những công trình của Thiên Chúa, thì này viên đội trưởng đã thốt lên: “<em>Ông này quả thực là Con Thiên Chúa</em>” (Mc 15,39). Chính lúc xem ra tuyệt vọng hơn cả, lúc mà xem như Đức Giêsu bị Thiên Chúa bỏ rơi, thì viên đội trưởng lại nhận ra được ánh sáng mặc khải để khám phá ý nghĩa hoàn toàn trái ngược: không phải là Đức Giêsu bị Thiên Chúa bỏ rơi, nhưng mà chính Đức Giêsu đã phó mặc mạng sống mình cho Thiên Chúa, và Chúa Cha đã trao ban mình cho Con.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Luca đánh dấu thêm một bước tiến nữa trong việc suy niệm về ý nghĩa Thập giá. Không những viên đội trưởng đã tuyên xưng rằng Đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng nhờ cái chết của Ngài mà bao nhiêu người được ơn trở lại:  Simon Phêrô đã khóc lóc sau khi chối bỏ thầy, Simon Cirênê đã hoán cải từ chỗ bị cưỡng bách phải tháp tùng Đức Giêsu tới chỗ vác Thập giá như một môn đệ theo thầy; một số phụ nữ đã đấm ngực than khóc thống hối; một tên tử tội cũng ăn năn. Nhất là những giây phút chót của Đức Giêsu trên Thập giá đã trở thành cao điểm của ơn cứu chuộc: Đức Giêsu đã xin Chúa Cha tha tội cho những lý hình; và ơn cứu chuộc được thể hiện cách cụ thể khi mà tên trộm lành được hứa vào nước trời ngay hôm ấy. Sau cùng, lời cuối cùng của Đức Giêsu trước khi tắt thở biểu lộ lòng tín thác vô biên nơi Chúa Cha: “<em>Lạy Cha, con xin phó thác thần trí con trong tay Cha</em>” (Lc 23,46). Như vậy, đối với Luca, việc Đức Giêsu chịu chết trên Thập giá không còn phải là chuyện hành hình của một tử tội nữa, nhưng là một biến cố cứu rỗi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Gioan thì nhìn Thập giá như sự bộc lộ của vinh quang Thiên Chúa: Đức Kitô bị treo trên Thập giá là biểu trưng của việc Ngài được nhấc lên khỏi mặt đất để thu hút mọi sự về với mình (Ga 12,32). Trong Phúc âm thứ bốn, cuộc tử nạn bắt đầu với việc rửa chân cho các môn đệ và di chúc về tình yêu: Đức Giêsu giải thích ý nghĩa cái chết của mình như một cử chỉ tình nguyện để bộc lộ tình yêu dành cho các bằng hữu. Chính Ngài đi ra đón những kẻ lùng bắt mình. Cuộc tra tấn dã man biến thành lễ nghi phụng vụ, khi Đức Giêsu khoác tấm áo đỏ với vòng gai, và bản án là Vua (Ga 19,14.19). Thánh Gioan lặng lẽ theo dõi những giây phút chót của Đức Giêsu trên Thập giá, ghi chú những cử chỉ nhằm hoàn tất Kinh Thánh: từ việc ký thác bà mẹ cho môn đệ, việc nhắp những giọt giấm cho tới việc bị ngọn giáo đâm thủng sườn; nhất là Gioan nhận định về những hậu quả của cái chết: máu, nước, Thánh Thần, biểu hiệu của mạch sống mới. Thập giá trở thành nơi bộc lộ của vinh quang Thiên Chúa: Thiên Chúa tỏ vinh quang của tình yêu khi ban Con Một mình cho nhân loại; nơi Đức Giêsu, Thập giá không phải là một nhục hình nhưng là ngai toà mà Ngài hành xử vương quyền, không phải vương quyền theo nghĩa trần tục nhưng là vương quyền của tình yêu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Như vậy, ta thấy nơi bốn cuốn Phúc âm đã có một diễn trình từ chỗ tường thuật một biến cố kết liễu cuộc đời của Đức Giêsu cho đến chỗ khám phá ra ý nghĩa của biến cố trong kế hoạch của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>III</strong>. <strong>Thần học của Thánh Phaolô về Thập giá</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Các tác giả Phúc âm không chỉ tường thuật lại cảnh Đức Giêsu bị xử án và bị chết trên Thập giá, nhưng còn tìm cách giải thích ý nghĩa của Thập giá trong chương trình của Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hơn nữa, các suy tư của Phaolô và của các tông đồ về Thập giá của Đức Kitô lại là một lời tuyên xưng hùng hồn về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Từ đó, những ai muốn làm môn đệ Đức Kitô phải có thái độ nào đối với Thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>1. Thánh Phaolô với Thập giá </em></strong><strong><em></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nơi các tác phẩm của thánh Phaolô và của các thánh tông đồ, ta thấy Thập giá được trình bày dưới khía cạnh của một việc tuyên xưng, hoặc trong lời giảng hoặc trong phụng vụ. Trong những bài giảng đầu tiên của Phêrô (được ghi lại trong sách Tông đồ công vụ), việc Đức Giêsu bị người Do thái nộp cho Philatô xử trên Thập giá đã trở thành một biến cố cứu độ: Thiên Chúa đã suy tôn Đức Giêsu làm Đức Chúa và vị Cứu tinh (Cv 2,36; 4,10; 10,39; 13,29). Lời tuyên xưng trong lời giảng của các thánh tông đồ cũng trở thành lời tuyên xưng đức tin của các tín hữu, đặc biệt là khi cử hành phụng vụ: “<em>Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, theo lời Kinh Thánh</em>” (1Cr 15,3); “<em>Đức Giêsu Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự</em>” (Pl 2,8); nhưng cái chết đó đã trở thành nguyên cớ (chính vì thế) cho sự siêu tôn: <em>Đức Giêsu Kitô là Chúa</em>. Trong thư gửi Côlôsê 1,19 ta cũng gặp thấy lời tuyên xưng dưới hình thức của thánh ca: “<em>Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”</em>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dĩ nhiên, khi nghe các tông đồ và các tín hữu tuyên dương một tội phạm bị xử tử trên Thập giá, nhiều người đã chói tai và không khỏi đặt câu hỏi: phải chăng các Kitô hữu là bọn người cuồng tín? Thế nhưng, thay vì tránh né nói tới Thập giá để khỏi gây hiểu lầm, thánh Phaolô đã dám đi thẳng vào vấn đề trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô. Thánh Phaolô tuyên bố rằng lời giảng về Thập giá mang tính chất nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở nơi mà người đời coi là điên rồ: “<em>Dân Do thái thì đòi phép lạ, dân Hy lạp thì tìm lý lẽ cao siêu; còn chúng tôi lại rao giảng một Đức Kitô trên Thập giá, một điều vấp phạm cho dân Do Thái và điều dại dột đối với dân Hy lạp. Thế nhưng, đối với ai được gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, thì đó là một vị cứu tinh với quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa; bởi lẽ sự dại dột của Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn con người gấp bội, và sự yếu ớt của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn của con người  trăm lần</em>” (1Cr 1,18-25). Thánh Phaolô còn thêm: “<em>Khi ở với anh em, tôi không biết chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, Đức Giêsu Kitô trên Thập giá</em>” (1Cr 2,2). Chúng ta đừng nên coi lời lẽ của Phaolô như là một thứ thuật ngữ hùng biện! Việc Đức Giêsu chịu chết trên Thập giá thực sự là chuyện ô nhục tồi tệ thực trước mặt người Do thái và người Hy lạp! Với Do thái, tử thi đã là vật ô uế rồi, lại còn phơi bày giữa trời nữa thì quả là đồ bị Chúa rủa bỏ (x. Gal 3,13). Thánh Phaolô chấp nhận cái phản ứng hợp lý đó, và dùng nó làm lập luận nghịch lý để trình bày kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa… chính qua Thập giá của Đức Kitô và chúng ta nhận thức được khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa: sự hèn yếu của Ngài thì mạnh mẽ hơn quyền lực của con người trăm ngàn lần (x. 2Cr 13,4). Tiếp tục đào sâu ý nghĩa cứu độ từ Thập giá, thánh Phaolô kể ra những hồng ân trọng đại mà Thiên Chúa ban cho nhân loại từ cái hình khổ của Đức Kitô, đó là: sự toàn thắng trên các lực lượng của sự dữ và ơn tha thứ tội lỗi. Cái chết của Đức Kitô được coi như một hy lễ; ngoài yếu tố Thập giá. Tác giả của thư gửi Do thái phân tích thêm yếu tố “máu”, biểu hiệu của việc hiến mạng sống vì tình yêu (Dt 9,11-12). Thư gửi Ephêsô tuyên dương Thập giá như dụng cụ mang lại ơn hòa giải cho nhân loại: từ một đối tượng đáng khinh bỉ trước mặt dân Do thái lẫn dân Hy lạp, Thập giá đã được Đức Kitô biến thành nơi hòa giải, phá đổ bức tường ngăn cách giữa dân Do thái với dân ngoại cũng như sự thù nghịch giữa nhân loại với Thiên Chúa (Ep 2,15-16). Như vậy, từ chỗ là biểu tượng của oán thù, nhờ Đức Kitô mà Thập giá trở nên nơi thi thố tình yêu và sự hòa giải giữa Thiên Chúa với loài người, và hòa giải giữa loài người với nhau. Thập giá không phải chỉ là một biến cố kết liễu cuộc đời Đức Giêsu, nhưng nó mang một giá trị vĩnh cửu: tác giả của sách Khải Huyền và của thư thứ nhất Phêrô trình bày thần học của chiên sát tế và vinh hiển trên ngai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>2. Thập giá của môn đệ</em></strong><strong><em></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tân ước không những chỉ nói tới Thập giá của Đức Kitô mà còn nói tới Thập giá của môn đệ muốn đi theo Ngài. Phúc âm để lại hai lời mời gọi môn đệ vác Thập giá để theo thầy. “<em>Ai muốn theo Tôi thì hãy từ bỏ mình đi, vác Thập giá của mình và đi theo Tôi.  Quả thực, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống vì danh nghĩa Tin mừng thì sẽ cứu được nó</em>” (Mc 8,34 – 9,1; xc. Mt 10,38-39; Lc 9,23-27). – “<em>Ai không vác lấy Thập giá của mình mà theo tôi thì không xứng đáng với Tôi</em>” (Mt 10,38; xc. 16,24). Thực ra, tuy là hai lời mời gọi nhưng kỳ thực chỉ có một lời kêu gọi, diễn đạt một đàng là dưới hình thức tích cực (“hãy vác Thập giá đi theo Tôi”) và một đàng là dưới hình thức tiêu cực (“Ai không vác Thập giá đi theo Tôi”). Lời kêu gọi đó hướng tới hết mọi người (công thức tích cực theo Matthêu được dành cho các môn đệ, Marcô đi nhằm tới đám đông có mặt với các môn đệ, còn Luca thì nói cho tất cả). Việc vác Thập giá là điều kiện cần thiết để “đi theo Đức Giêsu”; nó đòi hỏi phải từ bỏ mình, từ bỏ những mỗi liên hệ gia đình (Mt 10,37), và đưa tới sự mất mạng sống. Trong những lời vừa nói, Thập giá không còn được hiểu theo nghĩa đen của một khổ hình nữa, nhưng đã được đồng hóa với chính bản thân Đức Giêsu, kẻ bị chết trên Thập giá như biểu hiệu của sự hiến thân phục vụ tha nhân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Phaolô đã hiểu điều kiện làm môn đệ của Đức Kitô như là thông dự và Thập giá của Ngài: “<em>tôi đã được đóng tinh vào Thập giá cùng với Đức Kitô: không còn phải tôi sống nữa song là Đức Kitô sống trong tôi”</em> (Gl 2,19). Dĩ nhiên, ở đây Phaolô không hiểu theo nghĩa là mình cũng phải lãnh chịu khổ hình bị đóng đinh vào Thập giá giống như Đức Giêsu trước đây, nhưng Phaolô đã mở rộng tất cả các chiều kích thần học của Thập giá. Tiên vàn là Phaolô muốn đến lãnh nhận tất cả những hồng ân cứu chuộc phát sinh từ cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô; ơn cứu chuộc ấy được thông qua cho ta qua Bí tích Thánh tẩy (x. Rm 6,1-11). Kế đó, hồng ân đã lãnh nhận cần phải phát sinh một sinh lực mới nơi người tín hữu: người tín hữu phải đóng đinh tiêu diệt nơi thân xác mình tất cả những đam mê tội lỗi (xc. Gl 5,24). Hơn thế nữa, người tín hữu cần phải tìm cách diễn tả sự thông dự vào những đau khổ của Đức Kitô (xc. 2Cr 4,10) trong cuộc đời của mình, đặc biệt qua những cuộc bách hại gặp phải trên đường truyền giáo. Trong bối cảnh ấy Phaolô nói tới “<em>những người bị bách hại vì Thập giá của Đức Kitô</em>” (GL 6,12), và tuyên bố rằng mình đang mang trên thân thể những dấu thương (stigmata) của Đức Kitô (Gl 6,17). Thậm chí Phaolô còn đi tới chỗ quả quyết rằng: “<em>Tôi bổ túc trong thân xác hay chết của tôi những chi còn thiếu nơi những gian nan của Đức Kitô, nhằm sinh ích cho thân thể của Ngài là Hội thánh</em>” (Cl 1,24). Phaolô lấy làm hãnh diện vì Thập giá của Chúa Giêsu Kitô: “<em>nhờ đó thế gian đã bị đóng vào Thập giá đối với tôi và tôi đối với thế gian</em>” (Gl 6,14).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>3. Việc tôn kính Thập giá </em></strong><strong><em></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ những dòng suy niệm trên đây, chúng ta thấy rằng Thập giá mang một ý nghĩa sâu đậm đối với Kitô giáo: nói được là nó trở thành biểu tượng của chính Đức Kitô. Tuy nhiên, lòng tôn sùng hình ảnh Thập giá xuất hiện khá muộn. Một lý do có lẽ là tại vì nó gợi lên cảnh tượng của nhục hình ghê tởm. Vì thế mà trước khi hoàng đế Constantinô ra lệnh bãi bỏ khổ hình Thập giá trong đế quốc Rôma, người ta ít thấy các biểu tượng tôn kính Thập giá. Trong các hang toại đạo, chúng ta thấy có một biểu tượng na ná với hình thức chiếc neo tàu. Trái lại, trong khu vực Palatinô ở Rôma, người ta thấy một bức họa châm biếm vẽ một người bị treo trên Thập giá với đầu con lừa đang khi có một người khác đang tỏ dấu tôn kính, với những dòng chữ như sau: “Alexanênô đang thờ lạy chúa nó”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ sau khi Constantinô thắng trận nhờ dấu Thập giá, thì Thập giá thay đổi ý nghĩa. Như đã nói, hình phạt Thập giá bị loại khỏi hình luật. Đối lại, các Kitô hữu đang dùng tài nghệ của mình để trang hoàng Thập giá dưới những dạng thức khác nhau. Họ không chỉ giới hạn vào việc họa lại Thập giá lịch sử trên núi Calvê, nhưng hoặc được trang hoàng với những viên ngọc bích, hoặc diễn tả như cây sum suê hoa trái. Cũng nên biết là vào thời ấy, các Kitô hữu chỉ tôn kính cây Thập giá chứ không có hình tượng của Đức Giêsu. Tại sao vậy? Có lẽ vì họ không muốn trở lại cảnh Ngài đang chết nhục nhã đang khi mà họ thâm tín rằng Ngài đã sống lại vinh hiển: bởi thế họ muốn trình bày Thập giá như là nguồn sống, như là biểu hiệu của sự chiến thắng nói chung bên Đông phương, mỗi khi phải trưng bày Đức Kitô trên Thập giá thì người ta dùng hai mẫu tự Hy lạp bắt đầu danh xưng giống như chữ X và P), hoặc là dùng hình con chiên (chiên sát tế nói trong sách Khải huyền) và kể cả Đức Kitô Phục sinh. Còn bên Tây phương, từ thế kỷ XII dần dần các nghệ sĩ muốn trở về với cảnh tượng lịch sử và tâm lý, họa lại Đức Kitô hấp hối, đầu đội mão gai và mình mang đầy thương tích.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong những thế kỷ đầu, việc tôn kính Thập giá Đức Kitô đưa tới linh đạo muốn thông dự vào khổ nạn của Ngài nhất là qua sự tử đạo. Nhưng từ thế kỷ thứ IV, nhất là kể từ khi tục truyền kể là tìm lại được chính Thập giá thực của Đức Kitô (năm 326), thì việc tôn kính Thập giá được phát triển trong phụng vụ, đặc biệt vào ngày thứ 6 Tuần Thánh. Thập giá được ca ngợi như là cây gỗ đã mang lại ơn cứu rỗi cho thế giới. Từ thế kỷ 11, bên Tây phương phát triển lòng tôn kính các sự khổ nạn của Chúa, với việc suy gẫm những chặng đường mà Chúa đã đi qua cũng như những lần đã té ngã. Lúc đầu mỗi địa phương bày một hình thức suy niệm (thí dụ 7 lần Chúa ngã) hoặc những chặng dừng chân (có khi lên tới 47 chặng). Hình thức 14 chặng hiện nay đã được ấn định vào đầu thế kỷ 17 tại Tây Ban Nha. Cạnh việc suy gẫm con đường Thập giá của Đức Kitô cũng không thể thiếu hình ảnh của Đức Maria cùng chia sẻ những đau khổ với Con mình (bài ca Stabat mater dolorosa).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lòng tôn sùng Thập giá cũng còn được biểu lộ qua dấu Thánh giá mà tín hữu vạch ra trên mình đang khi kêu cầu danh Chúa Ba Ngôi. Tục lệ này đã xuất hiện ít là từ thế kỷ thứ 2. Vào khoảng năm 211, Tertullianô đã kể lại như một thói quen đã thịnh hành: “<em>Chúng tôi làm dấu Thập giá trên trán vào mỗi bước đi và cử động, khi khởi sự và kết thúc việc làm; khi mặc áo, khi chỗi dậy, khi tắm rửa, khi ăn uống, khi thắp đèn vào buổi chiều tối, khi ngồi xuống và trong bất cứ công chuyện gì</em>” (De corona militum 3,4).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cũng nên biết là trong lịch sử có nhiều hình thức làm dấu thánh giá. Từ thế kỷ thứ 2, người tín hữu đã có thói quen vạch dấu thánh giá trên trán bằng ngón tay cái hay ngón tay trỏ. Đến thế kỷ thứ 4, thì làm dấu thánh giá trên ngực nữa. Còn dấu thánh giá trên môi thì mãi tới thế kỷ thứ 8 mới thấy nói tới. Đó là cái mà chúng ta quen gọi là dấu thánh giá kép. Còn dấu thánh giá đơn vạch từ trán xuống ngực và qua hai vai thì xuất hiện riêng tư từ thế kỷ thứ 5, nhưng chỉ được phổ biến từ thế kỷ thứ 10 trong các đan viện. Hồi thế kỷ thứ 13, Đức Giáo Hoàng Innocente III khuyên nên làm dấu thánh giá như vậy với 3 ngón tay, từ trán xuống ngực, rồi từ vai phải sang vai trái. Thế nhưng, qua thế kỷ sau, thì người ta làm dấu với 5 ngón tay, và đổi ngược thứ thự hai vai, nghĩa là từ trái sang phải. Trong khi bên Tây phương thì khi làm dấu thánh giá như vậy, người ta quen đọc: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần; bên Đông phương thì người ta dùng nhiều công thức khác nhau, tỉ như: “Lạy Chúa chí thánh! Lạy Chúa chí thánh và Hùng mạnh! Lạy Chúa chí thánh, hùng mạnh và Bất tử, xin thương xót chúng con!”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Các tác giả đã vạch ra ba ý nghĩa chính của cử chỉ làm dấu, đó là: tuyên xưng, kêu cầu và hiến dâng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">a. Tuyên xưng rằng chúng ta là Kitô hữu; chúng ta đã để cho Đức Kitô ghi ấn trên bản thân chúng ta, cũng như tuyên xưng việc Ngài đã cứu rỗi chúng ta nhờ Thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">b. Dấu Thập giá cũng là lời kêu van, xin Chúa đến giúp chúng ta nhờ sức mạnh cứu rỗi từ Thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">c. Dấu Thập giá có ý nghĩa hiến dâng, bởi vì chúng ta dâng cho Chúa công việc sắp khởi sự, trong tinh thần vâng lời và phục vụ giống như Đức Kitô, ngõ hầu làm vinh danh cho Thiên Chúa Ba Ngôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>4. Biểu tượng Thập giá qua các thời đại trong Kitô giáo</em></strong><strong><em></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Xuôi dòng lịch sử có một số biểu tượng của thập giá qua các thời đại và đã được du nhập chính thức vào Kitô giáo. Dấu chỉ chữ thập, được hiểu là một cam kết khẳng định trong một giao ước, đã trở thành dấu của Phép Rửa khi ta chịu bí tích Thánh Tẩy, biểu hiện giao ước của Thiên Chúa với con người: Thiên Chúa chính thức là Cha của người nhận Phép Rửa, và người đó là con của Thiên Chúa. Ta có thể hiểu mối liên kết giữa Phép Rửa và Thập Giá mà thánh Phaolô đề cập (Rm 6: 5-6). Việc cầu nguyện giang tay cũng gợi lên hình ảnh của thập giá. Và cầu nguyện cũng đem lại cho chúng ta sự sáng và sự sống từ nguồn sống vĩnh cửu của Chúa Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1. Thập giá hình tròn thường dùng trong ma thuật.<br />
2. Thập giá chìa khóa, tên la-tinh là <em>crux ansata</em>, biểu tượng cho sự sống và sinh lực của người Ai cập; được Kitô hoá vào trước năm 391.<br />
3. Thập giá Hy lạp, còn gọi <em>crux quadrata.</em><br />
4. Thập giá của Thánh An-rê (cũng như thập giá Hy lạp để nghiêng), còn gọi <em>crux decussata</em>, thấy xuất hiện trong nghệ thuật của Do thái.<br />
5. Thập giá La-tinh, gọi là <em>crux immissa</em>; vào cuối thế kỷ thứ IV, được vẽ thêm các trang trí hình vỏ sò ở các đầu cạnh (xem hình 11)<br />
6. Hình chữ thập, hoặc còn gọi (tuy không chính xác) là <em>crux monogrammatica</em>, có lẽ là biểu tượng Kitô giáo cổ xưa nhất. Gồm hai chữ cái Hy lạp <em>rho</em> và <em>tau</em> chồng lên nhau, thoạt tiên được coi là viết tắt của người ngoại đạo, nhưng sau đó được đưa vào các thủ bản Tin Mừng tiếng Hy lạp vào khoảng năm 200. Được coi là một dấu thánh, <em>nomen sacrum.</em><br />
7. Thập giá của thánh An-tôn, còn được gọi là thập giá <em>tau </em>hay <em>crux commissa</em>, lấy chữ Hy lạp <em>tau</em>, và được cho là có dạng của thập giá ở Golgotha (sách giáo phụ Justin Martyr 91.2)<br />
8. Thập tự xoắn thường thấy trong các văn bản.<br />
9. Thập giá của người Malta, biểu tượng của trật tự.<br />
10. Thập giá có hình chiếc nĩa, còn gọi thập giá mang bệnh dịch, phổ thông vào cuối thời Trung Cổ. Nó nhấn mạnh đến vẻ đau khổ của thập giá, còn khi vẽ có các nhành lá, thì mang biểu tượng của Cây Sự Sống.<br />
11. Thập giá hình giọt nước mắt, như mở rộng cánh tay, biểu tượng tính chiến thắng của thập tự.<br />
12. Thập giá Giêrusalem, mang 5 dấu thương tích của Chúa Giêsu.<br />
13. Thập giá kép, còn gọi là <em>crux gemina</em>, sau này trở thành thập giá của các thượng phụ, trên thanh ngang có thêm gạch đầu; nếu có ba thanh ngang là thập giá của giáo hoàng.<br />
14. Thập giá bên nước Nga, có thêm gạch dưới để chân.<br />
15. Thập giá ánh sáng, còn gọi <em>crux radiata</em>, có màu vàng, hay 4 tia sáng chiếu ra.<br />
16. Thập giá có hoa văn, còn gọi <em>crux florida</em>, hay thập giá cây mang sự sống, gợi ý về thiên đàng (Khải Huyền 22: 2)<br />
17. Thập giá kết hợp hai chủ đề của Tân Ước là ánh sáng (ΦωC / <em>phōs</em>) và sự sống (ΖωH / <em>zōē</em>; xem Tin Mừng Gioan 8:12), kết hợp được hai thập giá 15 và 16.<br />
18. Thập giá kết hợp hai chữ Hy lạp <em>chi </em>(X) và <em>rho </em>(P) viết chồng lên nhau. Thật ra không phải là thập giá theo đúng nghĩa, vì đó là dấu chỉ tên của Chúa Giêsu, chứ không mang nghĩa phải thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>B</strong>. <strong>NHỮNG SUY TƯ CỦA CÁC GIÁO PHỤ VÀ CÁC NHÀ THẦN HỌC VỀ THẬP GIÁ</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>I. Thập giá trong thần học Cổ điển </strong><strong></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Kinh Thánh gắn liền Thập giá với ơn cứu rỗi của nhân loại. Có những lời tuyên xưng đức tin về ý nghĩa của cái chết của Đức Kitô: tuy không mắc tội tình gì nhưng Ngài đã phải chết trên Thập giá; thế nhưng, đó không phải là cái chết oan uổng, bởi vì theo 1Cr 15,3: Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, theo như lời sách thánh. Công thức còn được thánh Phaolô lặp lại ở nhiều nơi khác nữa, thí dụ như: 1Tx 5,9; 2Cr 5,14-21; Rm 4,25. Những lời tuyên bố khi thiết lập Bí tích Thánh thể cũng cho thấy rằng máu của Đức Kitô được đổ ra “<em>để mang lại ơn tha thứ tội lỗi cho muôn người”</em> (Mt 26,28; xc. Mc 14,24; Lc 22,20). Ngoài ơn tha thứ tội lỗi, thánh Phaolô cũng còn nêu bật rất nhiều những hồng ân khác như hiệu quả của Thập giá, thí dụ như: ơn trở thành công chính, ơn cứu chuộc, sự bình an hòa giải (Rm 3,24; Cl 1,20).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Các giáo phụ và các nhà thần học thời Trung cổ đã đặt câu hỏi về ý nghĩa cái chết của Đức Giêsu đối với chúng ta: tại sao Tân ước lại quả quyết Đức Kitô chết vì chúng ta? Làm thế nào mà cái chết của Đức Kitô trên Thập giá có sức mang lại ơn cứu độ cho chúng ta? Đây là vấn đề mà trong quá khứ quen được bàn trong thiên về công hiệu cứu chuộc của Thập giá, nhưng gần đây đã bị xét lại vì muốn tìm lối giải thích hợp với tư tưởng Kinh Thánh hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để trả lời cho câu hỏi về mối liên hệ giữa cái chết của Đức Giêsu trên Thập giá với ơn cứu chuộc ban cho nhân loại, các giáo phụ và các thần học đưa ra nhiều lời giải thích khác nhau, tóm lược vào 3 khuynh hướng chính: mẫu gương, giá chuộc, hy lễ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>1/ Dựa trên đoạn văn Phúc âm thánh Gioan 19,37 </em></strong>(<em>Họ sẽ nhìn thấy kẻ họ đâm thâu</em>), các giáo phụ tiên khởi cho rằng Thập giá là mặc khải của Thiên Chúa, giống như ánh sáng chiếu tỏa ra giữa đêm tối. Vài giáo phụ khác, khi chú giải đoạn văn 1Pr 2,21 (<em>Đức Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một mẫu gương cho anh em dõi bước theo Ngài</em>), đã nêu bật giá trị của Thập giá ở chỗ nó là bài học, tấm gương và chứng tá. Dù sao chúng ta cũng đừng nên quên rằng từ thánh Irênê, các giáo phụ đã coi sự cứu độ được ban cho nhân loại không phải chỉ nguyên từ Thập giá nhưng mà ngay từ lúc Đức Kitô nhập thể, khi Thiên Chúa kết hợp với nhân tính để chữa trị và thánh hóa nó. Nói khác đi, toàn thể cuộc đời Đức Kitô (từ khi nhập thể, giáng trần, trong thời ẩn dật ở Nadarét lẫn những lời nói việc làm trong khi hoạt động công khai) đều trở nên mầu nhiệm cứu độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>2/ Một số giáo phụ giải thích ơn cứu độ</em></strong> do Thập giá mang lại theo chiều hướng chuộc lại, nghĩa là giải thoát con người khỏi quyền lực tội lỗi. Thập giá là nơi diễn ra cuộc giao tranh giữa Đức Giêsu với các lực lượng của sự dữ và sự chết. Trước đây, trong vường địa đàng, vì một cây mà con người bị làm nô lệ cho ma quỷ; giờ đây, nhờ cây Thập giá, Thiên Chúa qua Đức Giêsu đã đến trợ giúp con người trong cuộc giao tranh và chiến thắng. Thực ra, tư tưởng chuộc lại đã gặp thấy trong Tân ước, thí dụ như thánh Phaolô ví Thiên Chúa như một ân nhân đã bỏ một số tiền ra để chuộc một nô lệ. Tân ước dùng hình ảnh đó để mô tả việc con người được giải thoát khỏi cảnh nô lệ của lề luật cũ, của cái chết và tội lỗi nhờ cái chết của Đức Giêsu (Gl 3,13; 4,4; 2Cr 5,21; Cl 2,14; một cách tương tự như vậy: Tt 2,14; 1Pr 1,18). Tuy nhiên, đó chỉ là một hình ảnh loại suy, khi mà sự dữ và cái chết được nhân cách hóa như những ông chủ đang xiềng xích con người. Tư tưởng chính mà Phaolô muốn nói là: con người được giải thoát khỏi tội lỗi và cái chết và được trở về sống trong ơn nghĩa Chúa. Phaolô không đề cập tới cái giá phải trả để chuộc lại. Thế nhưng về sau, các giáo phụ và các nhà thần học lại giải thích theo từ ngữ pháp lý: vì tội lỗi mà con người phải làm nô lệ của ma quỷ: cho nên Đức Kitô phải nộp mình chết thay cho con người để chuộc nó lại. Cái chết của Đức Kitô trở nên giá chuộc tội. Tuy cùng dùng một từ ngữ “chuộc lại”, nhưng ý nghĩa của nó nơi thần học kinh viện không hoàn toàn trung thực với ý nghĩa của Tân ước nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>3/ Một chiều hướng khác</em></strong> thì dựa vào tư tưởng hy lễ (hiến tế) đã được Kinh Thánh nói tới, nhất là “hy lễ xá tội” ở trong thư gửi Hy bá chương 9 và 10. Hy lễ được giải thích như là một hồng ân mà Thiên Chúa ban cho con người qua Con của mình để nhờ đó con người có thể hiến dâng cho Thiên Chúa hy lễ thiêng liêng. Việc con người hiến dâng mạng sống mình cho tha nhân thì cũng giống như việc Đức Giêsu đã hiến mình làm hy lễ vâng phục và yêu mến lên Chúa Cha vậy (Ep 5,2). Mặt khác, tác giả của thư gửi Hy bá cũng nhấn mạnh rằng Hy lễ của Đức Kitô hoàn toàn khác với các hy lễ trước đó, bởi vì giá trị của nó không phải là máu me sát tế đổ ra, nhưng là tinh thần vâng phục (Dt 5,8; 10,1). Các giáo phụ cũng không ngừng lặp đi lặp lại rằng Thiên Chúa không cần tới hy lễ; nếu Chúa muốn hy lễ thì chỉ vì loài người mà thôi. Đó là đạo lý của các giáo phụ được thánh Augustinô diễn ra trong De Civitate Dei X, 5-20. Tiếc rằng kể từ thánh Anselmô, hy lễ xá tội được giải thích hoàn toàn theo phạm trù triết học và pháp lý, hơn là dựa trên đạo lý của toàn bộ Kinh Thánh. Theo lập luận này, Thiên Chúa nhân hậu muốn tha tội cho con người, nhưng đồng thời cũng cần phải tôn trọng sự công bằng nữa. Tội lỗi đã gây ra xáo trộn trật tự, làm xúc phạm đến Thiên Chúa công thẳng vô cùng; vì thế mà cần phải có Con Thiên Chúa mới có khả năng dâng lên hy lễ chính mạng sống mình (có giá trị vô cùng) thì mới có thể khôi phục lại trật tự. Từ đó, Thập giá được giải thích theo chiều hướng là hy lễ sát tế đền bồi, công thẳng của Chúa (Đức Kitô đền tội thay cho chúng ta, hứng lấy tất cả những hình phạt chúng ta đáng phải chịu: substitutio, expiatio); còn chiều kích tình yêu trao hiến, vâng phục không được nêu bật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có lẽ khuyết điểm lớn của thần học trong quá khứ là khi sử dụng các từ ngữ của Kinh Thánh, họ đã giải thích các từ ngữ ấy theo triết lý hay pháp luật mà bỏ qua toàn thể bối cảnh của mặc khải. Thực vậy, Kinh Thánh nói tới sự “công bằng” của Thiên Chúa, hạch sách cho tới đồng xu cuối cùng. Ngay từ Cựu ước, sự “công bằng” của Thiên Chúa ám chỉ việc Ngài giữ lời hứa, lòng trung tín đối với giao ước. Tuy rằng Israel có thất trung, nhưng Thiên Chúa không rút lời. Tư tưởng đó được nối dài qua Tân ước, nơi mà Thiên Chúa bày tỏ sự công bằng qua việc duy trì lời hứa: chính Ngài không ngừng yêu thương nhân loại cho dù tội lỗi của loài người gây ra bao nhiêu rối loạn. Ngài đứng ra khởi xướng cuộc giao hoà với nhân loại nhờ Đức Kitô. Như thế, chúng ta đừng hiểu sự “công bằng” của Thiên Chúa như là “công thẳng”, nhưng phải nói là sự “trung tín” thì mới đúng.  Một cách tương tự như vậy, các từ ngữ đọc thấy trong Kinh Thánh như là “công trạng”, “chuộc lại”, “hy lễ”, “làm nguôi lòng” cần phải hiểu theo nghĩa loại suy (như thánh Tôma Aquinô đã nhắc nhở nhiều lần: ST III, q.47,3; q.48,1-5), và nhất là cần được đi kèm theo với những từ ngữ khác biểu lộ ơn cứu độ: “trao ban, hoà  giải, bình an, ban sự sống”, v.v…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Như thế, để trả lời thoả đáng cho câu hỏi: “tại sao ơn cứu độ thế gian được thông ban qua cái chết của Đức Giêsu?”, chúng ta cần phải xây dựng theo lời giảng đầu tiên của thánh Phêrô để nói rằng: “<em>tại vì tội lỗi và vũ lực của con người đã khai trừ Đức Giêsu, người công chính tuyệt đối</em>”. Cái chết của Đức Giêsu là do con người đã gây ra; còn sự sống thì xuất phát từ Thiên Chúa khi cho Đức Kitô sống lại (x. Cv 2,23-24). Thiên Chúa luôn luôn trung tín với lời hứa ban ơn cứu độ bất chấp sự phá hoại của con người. Nói khác đi, xem ra trước đây, thần học nhìn từ đất lên trời chú ý tới giá trị công nghiệp đền tội của Đức Giêsu dâng lên Thiên Chúa; còn ngày nay, người ta muốn nhìn từ trời xuống đất để ý tới tình thương của Chúa Cha tỏ ra cho nhân loại khi ban chính con của mình cho nhân loại. Một cách tương tự như thế, Thập giá được nhìn như biểu hiệu tình yêu của Đức Kitô trao ban mình cho các bằng hữu. Dù sao, thiết tưởng cả hai chiều hướng đi lên hoặc đi xuống (hoặc nói theo kiểu thánh Tôma: đi ra đi về, exitus-reditus, con người từ Chúa đi ra và lại trở về với Chúa) cũng cần được bổ túc cho nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù nói thế nào đi nữa, chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận giới hạn của trí óc chúng ta khi đứng trước thập giá: mãi mãi Thập giá vẫn là một mầu nhiệm, đồng thời cũng là sự điên rồ phi lý theo kiểu tính toán của con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>II. Thần học cận đại về Thập giá</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ thời các giáo phụ, vấn đề chính của thần học về Thập giá là tìm hiểu mối liên hệ giữa cái chết trên Thập giá của Đức Kitô với hồng ân cứu độ ban cho loài người. Nói khác đi, Thập giá được bàn tới trong nhãn giới của mầu nhiệm cứu chuộc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thần học cận đại có một nhãn giới khác về vấn đề này. Bắt nguồn từ vấn nạn của Luther về mặc khải của Thiên Chúa nơi Thập giá, các nhà thần học Tin lành cận đại nói tới sự đau khổ của Thiên Chúa trên Thập giá, và từ đó xét lại vấn đề ý nghĩa sự đau khổ của con người. Sau cùng cũng cần nói thêm đôi chút về thần học Thập giá theo Thượng Hội đồng Giám mục thế giới họp năm 1985.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>1. Sự đau khổ của Thiên Chúa</em></strong><strong><em></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong khi thần học Công giáo cổ điển bàn tới Thập giá trong nhãn giới của ơn cứu chuộc, thì Luther nói tới Thập giá dưới khía cạnh mặc khải: làm sao con người có thể biết được Thiên Chúa? Luther phân biệt giữa 2 cách biết Thiên Chúa: một đàng là biết nhờ suy luận các hữu thể thụ tạo, được mệnh danh là theologia gloriae, Thiên Chúa được quan niệm như Đấng chủ tế trọn tốt trọn lành. Thế nhưng, Luther cho rằng đó không phải là khuôn mặt thực của Thiên Chúa mà chỉ là một hình tượng do con người đã tạo ra. Luther chủ trương rằng cách thức để nhận khuôn mặt thật của Thiên Chúa là con đường Thập giá (theologia crucis), nơi mà Thiên Chúa tỏ ra ý định của Ngài đối với nhân loại. Ngài không phải là một hữu thể toàn hảo bất biến, nhưng là một Đấng rất xa với tội lỗi và đau khổ của con người, đã bày tỏ tình yêu với con người cách hùng hồn nơi Thập giá của Đức Giêsu. Tiếp theo Luther, Thần học về Thập giá về phía Tin lành mang một hướng đi độc đáo: nó không những chỉ muốn đào sâu giá trị của ơn cứu chuộc được ban từ Thập giá, nhưng nó cũng trình bày toàn thể thần học về bản tính của Thiên Chúa được mặc khải nơi Thập giá. Vào thế kỷ 20 này, vấn đề được phát biểu một cách bạo dạn như sau: ai chịu khổ và chịu chết trên Thập giá? Phải chăng chỉ có Đức Kitô chịu khổ hình chịu chết? Có thể nói rằng Chúa Cha chịu đau khổ hay không? Có thể nói rằng Thiên Chúa chịu chết hay không? Nên biết rằng đây không phải là những câu hỏi ngớ ngẩn, gợi lên để nói cho vui. Một số câu hỏi này đã được đặt ra từ các trại tập trung của Đức quốc xã, khi hàng triệu người phải nếm những cảnh tra tấn tù tội, hỏa lò: họ cảm tưởng rằng Thiên Chúa đã chết trong sự thinh lặng, không ra tay can thiệp, cũng giống như cảnh tưởng Đức Giêsu bị bỏ rơi trên Thập giá. Cũng trong hoàn cảnh tương tự, nhà thần học Tin lành Kazo Kitamori người Nhật đã viết những dòng suy tư về sự đau khổ của Thiên Chúa từ kinh nghiệm đau khổ của dân tộc vào hồi thế chiến thứ hai (Theology of the Pain of God, 1946, tái bản 1972).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ một câu hỏi đặt lên trong giới thần học Luther, nó trở thành một đối tượng cho một ngành của thần học gọi là staurologia (Thập giá học). Các thần học gia của Công giáo lẫn Tin lành đều tham gia vào cuộc khảo cứu những đề tài về sự mặc khải của Thiên Chúa từ Thập giá. Trước tiên, họ bàn tới sự đau khổ và sự chết nơi Đức Kitô như một chủ thể duy nhất gồm thiên tính và nhân tính (nơi Đức Kitô, thiên tính đã chia sẻ sự đau khổ của nhân tính như thế nào). Kế đó, họ đi lên mối liên hệ giữa Chúa Cha với Đức Kitô (xét vì Đức Kitô với Cha là một). Tác giả dẫn đầu cho hướng đi này là Jurgen Moltmann, với tác phẩm “Thiên Chúa bị đóng đinh trên Thập giá” (xuất bản năm 1972), mở rộng Thập giá tới toàn thể mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi: “Vì yêu mà con đau khổ khi bị Cha bỏ rơi; vì yêu mà Cha khổ khi con đau đớn và chết; Thánh Thần tình yêu đã khôi phục sự sống cho người đã chết. Nơi Thập giá ta chứng kiến được sự tham dự yêu thương của cả Ba Ngôi Thiên Chúa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cũng trong chiều hướng đó mà các nhà thần học Công giáo như Hans Urs Von Balthasar, F.X. Durwell đã trình bày toàn bộ mầu nhiệm vượt qua như là mặc khải mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>2. Ý nghĩa của sự đau khổ</em></strong><strong><em></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đang khi mà thần học Tin lành nhìn lên Thập giá để tìm hiểu sự đau khổ của Thiên Chúa, thì thần học giải phóng nhấn mạnh tới sự đau khổ của con người. Thật ra, như chúng ta đã biết, việc gắn liền Thập giá với đau khổ không còn gì mới lạ. Văn chương tu đức đã trình bày khía cạnh này từ lâu rồi: chúng ta hãy bắt chước Đức Kitô chấp nhận những đau khổ như Thập giá mà Chúa gởi đến! Tuy nhiên, thần học giải phóng tố cáo rằng một luồng tu đức như vậy sẽ tạo ra những hạng người thụ động: đứng trước các bất công xã hội, những cảnh lầm than của nhân loại, người tín hữu chỉ biết học đức kiên nhẫn chịu đựng, thay vì tìm cách cải tạo xã hội. Hơn thế nữa, nói rằng chấp nhận những đau khổ như Thập giá Chúa gởi đến thì có khác nào như nói rằng Chúa muốn cho con người phải đau khổ hay sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những vấn nạn vừa nêu lên đã bắt buộc thần học cận đại xét lại một câu hỏi mà con người mọi nơi mọi thời đã đặt lên cho tất cả các tôn giáo: vì đâu mà con người phải khổ? Giới hạn vào sự liên hệ với Thập giá, ta nên biết rằng Kitô giáo tiên vàn không nhằm đề ra một lý thuyết để giải thích về nguyên nhân của sự đau khổ cho bằng trưng ra mẫu gương của một người đã cùng chia sẻ sự đau khổ: người ấy chính là Đức Kitô. Nơi Người, Thiên Chúa đã nếm thử tất cả những mùi đau khổ của con người, cả về thể chất lẫn tinh thần, nhất là sự khắc khoải trước cái chết và cái chết đã mang ô nhục. Thiên Chúa đã lãnh lấy đau khổ không phải vì Ngài yêu thích đau khổ, nhưng là vì yêu thương con người khổ đau. Ngài không muốn phô trương kỷ lục về đau khổ cho bằng muốn chia sẻ thân phận con người ngay từ khi vào đời. Chính trong sự liên đới của Đức Kitô với những đau khổ của loài người mà chúng ta tìm thấy một niềm an ủi; thực vậy, bất cứ người nào cho dù bị chìm sâu xuống bể khổ đến đâu, cũng đều có thể hướng mắt nhìn lên Thập giá. Thực ra, Đức Kitô không có thánh hóa sự đau khổ xét như là đau khổ: sự đau khổ  nguyên nó là điều xấu và có thể gây ra bao nhiêu sự xấu khác (căm tức, oán hờn, trách phận, ghen tương,…). Chúng ta cũng đừng coi sự đau khổ như là giá mà Đức Kitô phải trả cho Thiên Chúa để đền tội của loài người; bởi vì như vậy là hạ giá Thiên Chúa, coi Ngài như ông chủ nợ khắc nghiệt cay cú! Hình ảnh ấy không phản ánh khuôn mặt của Thiên Chúa mà Đức Kitô đã mặc khải cho chúng ta. Thiết tưởng phải nói rằng không phải số lượng đau khổ chồng chất lên thân xác của Đức Kitô đã mang lại ơn cứu độ cho nhân loại, cũng chẳng phải chính cái chết có sức đền tội thay cho chúng ta: nhưng là cách thức mà Đức Kitô đã lãnh nhận cái chết. Đức Kitô đã đón nhận hết tất cả những đau khổ cho tới chết với tinh thần tự do âu yếm và trao hiến thân mình. Đức Kitô đã hoán cải cái chết, từ chỗ là hoa quả của thù hận và tội lỗi để trở nên ngọn lửa của yêu thương. Chính vì đã xoay ngược ý nghĩa của cái chết như vậy mà ta có thể nói rằng Đức Kitô đã giao tranh với sự chết. Đức Kitô đã lãnh nhận cái chết trên mình và đã vật ngã nó nhờ sự sống lại; hay nói cách khác, Ngài đã tiêu diệt cái chết. Nhờ tình yêu mà Ngài thông ban cho con người, chúng ta cũng có thể chấp nhận cùng với Ngài (nghĩa là có thể hoán cải) sự đau khổ. Vì thế, đau khổ có thể có giá trị hay không là tuy theo thái độ chúng ta có chấp nhận nó cách tự do hay không, nghĩa là có biết đón nhận nó với sức mạnh của Đức Kitô (giống như Ngài và cùng với Ngài) hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù sao, cần phải nhấn mạnh rằng Thập giá không phải là một học thuyết giải thích hay biện minh cho sự đau khổ của con người. Thập giá cho ta thấy một sự kiện là Thiên Chúa đã đến gặp gỡ sự đau khổ, với thái độ tự do của Ngài. Điều đó đã vạch ra hai bộ mặt của đau khổ: nó vừa kinh tởm vừa xinh đẹp. Nó kinh tởm bởi vì chính một kẻ công chính vô tội đã chịu khổ do dã tâm của đồng loại. Nó xinh đẹp bởi vì cách thức mà Đức Giêsu đã chấp nhận và biến đổi nó: Người đã đón nhận nó cách âu yếm và hoán cải nó thành dụng cụ yêu thương. Và Đức Kitô mời gọi các môn đệ hãy vác Thập giá đi theo Ngài với nghĩa ấy: bắt chước Chúa trong thái độ yêu mến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Gioan Phaolô II đã viết dòng suy niệm về ý nghĩa sự đau khổ trong tông thư Salvifici Doloris.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>3. Thần học Thập giá trong tương quan giữa Giáo hội với trần thế </em></strong><strong><em></em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong hậu bán thế kỷ 20, thần học Công giáo có nhiều du dịch đáng kể chung quanh thần học Thập giá. Trước đó, Thập giá được nói nhiều trong các sách tu đức, đề cao việc chia sẻ những đau khổ của Chúa Giêsu qua những việc hãm mình đền tạ. Vào thập niên 50, với cuộc cải tổ phụng vụ, Thập giá dần dần biến đi nhường chỗ cho mầu nhiệm Phục sinh. Thật vậy, nếu không có sự phục sinh thì Thập giá chẳng có ý nghĩa gì hết mà chỉ dẫn tới tuyệt vọng. Trùng với thời kỳ phát triển khoa học và kinh tế tại Âu châu, các văn kiện của công đồng Vaticanô II được soạn ra dưới ánh sáng lạc quan của mầu nhiệm phục sinh đến nỗi quên đi mầu nhiệm Thập giá! Thế nhưng, đến khoảng thập niên 70, với những cuộc khủng hoảng kinh tế, với những cảnh bất công còn tái diễn trên thế giới, thần học lại quay lại với Thập giá. Sự quân bình giữa Thập giá và Phục sinh không phải lúc nào cũng dễ dàng! Vào dịp kỷ niệm 20 năm bế mạc công đồng Vaticanô II, khi nhận định về sứ mạng của Hội thánh trong thế giới dựa theo hiến chế “vui mừng và hy vọng” Thượng Hội đồng Giám mục khoá bất thường năm 1985 đã tuyên bố như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Chúng tôi nhận thấy rằng những dấu chỉ của thời đại chúng ta có phần khác với thời đại công đồng, với những vấn đề và khắc khoải lớn hơn. Thực vậy, ngày nay khắp nơi trên thế giới chúng ta đang chứng kiến sự gia tăng của đói kém, đàn áp, chiến tranh, đau khổ, khủng bố và nhiều hình thức bạo lực khác. Điều này đòi hỏi một sự suy tư thần học mới và sâu xa hơn, ngõ hầu có thể giải thích những dấu chỉ này trong ánh sáng của Tin mừng. Chúng tôi thấy rằng trong nỗi khó khăn hiện tại Thiên Chúa muốn dạy chúng ta cách thấm thía hơn về giá trị, tầm quan trọng và trung tâm của Thập giá Đức Kitô. Vì thế, sự liên hệ giữa lịch sử nhân loại và lịch sử cứu rỗi cần được giải thích dưới ánh sáng của mầu nhiệm vượt qua. Dĩ nhiên, thần học Thập giá không loại bỏ hoàn toàn thần học về tạo dựng và nhập thể, nhưng nó giả thiết cả hai nền tảng đó. Khi các kitô hữu nói tới Thập giá, chúng ta không muốn bị gán là bi quan yếm thế nhưng chúng ta muốn đặt mình trên thực trạng của nền hy vọng kitô giáo. Từ viễn ảnh của mầu nhiệm vượt qua, cùng với sự khẳng định mối liên kết giữa Thập giá và Phục sinh, chúng ta có thể nhận định một sự thích nghi canh tan và chính hiệu hay giả hiệu. Một đàng chúng ta không thể nào chấp nhận hoàn toàn đồng hóa với thế gian; đàng khác, chúng ta cũng không thể đóng khung Giáo hội vào cộng đồng các tín hữu: chúng ta cần phải khẳng định sự cởi mở truyền giáo của Giáo hội nhằm tới sự cứu rỗi toàn diện con người. Nhờ đó, hết mọi giá trị chân chính của con người không những được chấp nhận mà còn được bảo vệ cách cương quyết: phẩm giá nhân vị; những quyền lợi căn bản của con người; hoà bình; tự do khỏi mọi áp bức, nghèo kém và bất công. Tuy nhiên, sự cứu rỗi toàn diện đạt được khi mà những thực tại vừa nói của con người được thanh luyện và nâng cao nhờ ân sủng và sự kết hợp với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần.  </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cũng nên biết là văn kiện ấy cũng lấy mầu nhiệm Thập giá làm mẫu mực cho việc hội nhập văn hóa. Nói cách khác, tiêu chuẩn của việc hội nhập văn hóa không thể chỉ dựa thuần tuý trên mầu nhiệm nhập thể, nhưng còn phải dựa cả trên mầu nhiệm Thập giá nữa: Giáo hội cần biết thu nhận các nền văn hóa nhưng đồng thời cũng cần phải biết thanh tẩy luyện lọc chúng nữa. Như thế, ta thấy một chiều kích khác nữa của thần học Thập giá, đặt trong mối tương quan giữa Giáo hội với trần thế, giữa lịch sử nhân loại với lịch sử cứu độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>C</strong>. <strong>THÁNH GIÁ LÀ TÌNH YÊU</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thập giá được tạo nên do hai thanh gỗ, một nằm và một đứng. Thanh nằm tượng trưng cho sự chết và sự yếu đuối trải rộng. Thanh đứng tượng trưng cho sự sống vươn cao. Hai thanh bắc ngang nhau tượng trưng cho sự tương phản giữa sự sống và sự chết, giữa vui buồn và cười khóc, giữa khoái lạc và đau khổ, giữa ý muốn con người và ý muốn Thiên Chúa. Đặt thanh vui mừng trên thanh đau khổ là cách duy nhất để làm nên một Thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ý muốn của con người là thanh nằm. Ý muốn của Thiên Chúa là thanh đứng. Ngay khi đối kháng hai ý muốn này tức là đã tạo nên một thập giá. Do đó thập giá là biểu tượng của đau khổ. Người ta sợ thập giá. Đó là hình phạt sỉ nhục đau đớn nhất cho tội nhân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng chịu đóng đinh đã chiến thắng đau khổ. Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hòan toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Đấng là tình yêu đã cho thấy rằng tình yêu có thể biến đau khổ thành niềm vui, để những ai gieo trong nước mắt có thể gặt giữa tiếng cười, những ai khóc lóc có thể được an ủi, những ai đau khổ có thể đồng hiển trị với Ngài. Những ai mang thập giá ngày thứ Sáu Tuần Thánh có thể hạnh phúc ngày Chúa Nhật Phục Sinh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tình yêu như là điểm giao thoa giữa thanh nằm của sự chết và thanh đứng của sự sống trong một xác quyết: mọi sự sống đều ngang qua sự chết. Đau khổ là hy sinh không tình yêu đang hy sinh là đau khổ kèm theo tình yêu. Tình yêu biến đau khổ thành hy sinh dâng hiến với niềm vui. Thiếu tình yêu, hy sinh chỉ còn là đau khổ gánh nặng và buồn chán. Đức Kitô đã đón nhận cái chết trên thập giá vì yêu thương nhân lọai. Cái chết của Người là một hiến lễ có giá trị chuộc tội, đền tội, gánh tội và Người chỉ dâng hiến lễ một lần là đủ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trước khi Đức Kitô bị đóng đinh đã có thập giá rồi. Người Rôma dùng thập giá để lên án tử hình cho các tội nhân. Bấy giờ ở đâu có thập giá là ở đó có sự chết. Người ta sợ hãi thập giá. Bóng thập giá là tử thần. Thập giá tới đâu là khóc than khổ đau đến đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hôm nay, nơi nào có bóng thập giá là nơi ấy có dấu chân người Kitô hữu. Ba cây thập giá dựng lên chiều thứ sáu tử nạn, Đức Kitô ở giữa hai tội nhân. Trong ba cây thập giá ấy chỉ có cây ở giữa là Thánh giá. Khi Đức Kitô tắt thở trên cây thập giá, Ngài đi vào đời sống mới thì cây thập giá khốn khổ ấy trở thành cây cứu rỗi và trở nên Thánh. Sự thánh ấy là tình yêu, là đau khổ, là sự chết và là vinh quang. Không có tình yêu thì thập giá không phải là Thánh giá. Thập giá dụng cụ giết người nhục nhã đã trở nên Thánh giá phương tiện ban sự sống mới qua tình yêu Đấng Cứu Thế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh giá là biểu tượng cho Kitô giáo. Thánh giá mang ánh sáng, nguồn chân lý đến cho các giáo huấn  của Giáo hội.  Thánh giá là biểu tượng cho niềm tin Kitô hữu, cho ơn cứu độ của Đức Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôn vinh Thánh giá là tôn vinh chính Đức Giêsu Kitô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mỗi ngày người tín hữu nhìn lên Thánh giá, biểu tượng đức tin và ơn cứu độ, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa và ngợi khen Đức Giêsu Kitô. Nhờ đó ta sẽ an tâm vững bước trên con đường Chúa Cứu Thế đã đi qua.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: right;"><span style="color: #800000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Lm. Giuse Nguyễn Hữu An </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Thời sự thần học số 7 tháng 3/97</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2012/03/17/th%e1%ba%a7n-h%e1%bb%8dc-v%e1%bb%81-th%e1%ba%adp-gia/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ngắm và các phong tục Ngắm trong Mùa Chay</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2012/03/14/ng%e1%ba%afm-va-cac-phong-t%e1%bb%a5c-ng%e1%ba%afm-trong-ph%e1%bb%a5ng-v%e1%bb%a5-mua-chay/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2012/03/14/ng%e1%ba%afm-va-cac-phong-t%e1%bb%a5c-ng%e1%ba%afm-trong-ph%e1%bb%a5ng-v%e1%bb%a5-mua-chay/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 14 Mar 2012 02:44:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DangTrinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa & Niềm tin]]></category>
		<category><![CDATA[Chúa Giêsu]]></category>
		<category><![CDATA[Mùa Chay]]></category>
		<category><![CDATA[ngắm 15 sự thương khó]]></category>
		<category><![CDATA[phong tục]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=5112</guid>
		<description><![CDATA[Kinh sách Công Giáo Việt Nam dùng nhiều từ Ngắm. Ví dụ: Ngắm Bẩy Sự,... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2012/03/14/ng%e1%ba%afm-va-cac-phong-t%e1%bb%a5c-ng%e1%ba%afm-trong-ph%e1%bb%a5ng-v%e1%bb%a5-mua-chay/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Kinh sách Công Giáo Việt Nam dùng nhiều từ Ngắm. Ví dụ: Ngắm Bẩy Sự, Ngắm Đàng Thánh Giá, Ngắm Lễ, Ngắm Đứng, Ngắm 15 Sự Thương Khó, Ngắm Nhân Sao. Ngắm Nhân Tài. Ngắm Đàng Thánh Giá, Khi Ngắm bấy nhiêu sự… Trong phạm vi bài này, chúng tôi tìm hiểu từ Ngắm và các tập tục trong nghi thức Ngắm.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/ngamsuthuongkho.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5113" title="ngamsuthuongkho" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/ngamsuthuongkho.jpg" alt="" width="400" height="300" /></a>Ngắm </strong>吟: Từ Nôm lấy dạng từ Ngâm 吟 trong Hán Việt, có nghĩa là nhìn kỹ, gẫm suy. Ngắm cũng có âm khác là Ngẫm. Miền Bắc dùng từ Ngắm, miền Nam dùng từ Ngẫm hay Gẫm. Cả hai đều có nghĩa là suy nghĩ kỹ. Từ Ngâm trong Hán Việt có nghĩa là đọc chậm, có ngân nga như ngâm thơ, ngâm vịnh. Do vậy từ Ngắm xuất phát từ từ Ngâm cũng có nghĩa là vừa ngắm nhìn vừa ngân nga như Ngắm 15 sự thương khó Đức Chúa Giêsu. Trong kinh sách Công Giáo, có ba loại ngắm chính là Ngắm Lễ, Ngắm 15 Sự Thương Khó và Ngắm Đàng Thánh Giá. Riêng Ngắm Đàng Thánh Giá thì trên thế giới nơi nào cũng có nên chúng tôi chỉ nghiên cứu tập tục Ngắm Lễ và Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu là hai loại ngắm đặc thù của Công Giáo Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Ngắm Lễ:</strong> Trước Công Đồng Vatican II, thánh lễ được cử hành bằng tiếng La Tinh. Khi Linh Mục cử hành thánh lễ, các cô học trò đọc những lời diễn giải nghi thức đó. Vì đọc theo cung giong ngân nga nên gọi là Ngắm Lễ. Ví dụ, khi Linh Mục đọc kinh Tin Kính, các cô học trò ngắm: <em>“Thầy đọc kinh tin kính: Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu, tôi tin thật những điều Chúa Giêsu đã truyền cho Hội Thánh. Tôi sẵn lòng đổ máu tôi ra mà làm chứng. Tôi hợp một ý cùng thầy cả mà xưng ra tôi tin kính Chúa tôi cùng tin những lời Hội Thánh dậy, dù sống chết thì hợp một ý cùng Hội Thánh mà tin cho vững bền như là vậy”.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cung giọng ngắm thì ngân nga trầm bổng và để có thể ngân nga, người ta thêm các âm í i/ í ì/ ì i ì/. Ví dụ phần nhập lễ, các cô học trò ngân nga như sau: Lậy I Chúa tôi Í, I. &#8211; Bao nhiêu lễ Ê làm ÀM ngày AY hôm nay Í I. &#8211; Khắp cả A VÀ À thiên hạ Í I. – Thì Ì xin dâng cho Chúa Í I. v.v… Trên đây là cung giọng ngắm lễ mùa Vui hay mùa Mừng, khác cung giọng mùa Thương. Mùa Vui là mùa Sinh Nhật, Mùa Hiện Xuống. Mùa Mừng là mùa Phục Sinh. Ba mùa này cung giọng bớt thảm não ngân nga hơn Mùa Thương tức mùa Chay Thánh. Ngắm lễ không có bài bản ghi dấu nốt nhạc nhất định, chỉ được bà quản dậy thế nào, các cô học trò ngắm như vậy. Họ học thuộc lòng không cần mở sách nên cung giọng rất đều. Ngày nay phong tục ngắm lễ đã biến mất. Chúng tôi ghi lại đây nét đại cương như một chứng liệu lịch sử văn hóa Công Giáo cần được nghiên cứu đầy đủ để giới thiệu với giới trẻ ngày nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu</strong>: Ngắm được diễn ra trong tuần thánh, là nghi thức giúp giáo dân suy nghĩ về cuộc tử nạn của Chúa Cứu Thế. Ngắm 15 Sự Thương Khó còn gọi là Ngắm Đứng vì người đọc đứng trước bàn thờ trước cung thánh ngân nga những lời suy niệm. Tác giả các bài Ngắm 15 sự thương khó Đức Chúa Giêsu là cha Alexandre de Rhodes. Cha viết trong Lịch Sử Đàng Ngoài như sau: <em>Để cho họ khỏi bị thiệt thòi, thì chúng tôi đã chia các mầu nhiệm thương khó làm 15 đề tài chính. Cứ sau khi đọc chung mười kinh chuỗi hạt thì ngắm một đoạn và suy niệm một trong 15 sự thương khó, sau mỗi lần như thế thì lại tắt một trong 15 ngọn nến sáng theo tục lệ trong giáo hội Roma. Trong nghi lễ, họ khóc lóc, kêu gào và rên rỉ tỏ lòng thương mến những thống khổ và cái chết của Chúa Cứu Thế, người lân cận cũng đến nghe</em>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trước năm 1954 nghi lễ ngắm 15 Sự Thương Khó được tổ chức vào các ngày Thứ Tư, Năm, Thứ Sáu Tuần Thánh. Tại các giáo xứ miền Bắc, nghi thức diễn ra như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Người ta đặt một cái bàn phủ khăn trắng ở vị trí chỗ giáo dân lên rước lễ trong nhà thờ. Sau bàn là một vì kèo gọi là kèo ngắm cao độ 3 hay 4m trên đó cắm 15 ngọn nến tượng trưng cho 15 ngắm sự thương khó. Sau mỗi ngắm, người ta tắt đi một ngọn nến. Trên bàn có đặt cây thánh giá nhỏ được che màn trắng, hai bên có hai cây nến. Trước thánh giá là một kệ nhỏ để sách ngắm, cũng có hai cây nến để hai bên. Sách thường là sách viết tay bằng chữ nôm hay chữ quốc ngữ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào khoảng kinh kính mừng thứ 8, bồi tế gõ mõ ra lệnh, trống khẩu đáp lại, đoàn rước từ cuối nhà thờ rước viên chức tiến lên bàn ngắm. Dẫn đầu đoàn rước là người cầm trống khẩu vừa đi vừa điểm 3 tiếng trống: hai nhặt, một khoan. Sau đó đến 4 hay 6 người cầm bát bảo và hai bồi tế chia làm hai hàng đi lên. Viên chức lên ngắm thường mặc áo thụng màu thanh thiên, đầu đội khăn xếp, chân đi hài. Đến bàn ngắm, thì giáo dân đã đọc xong 10 kinh, bồi tế gõ mõ, hai bồi tế và viên chức ngắm bái qùy. Một hồi chiêng trống và nhịp trắc nổi lên, viên chức bắt đầu ngắm. Trong lúc ngắm người cầm trống khẩu đệm nhẹ ba tiếng: hai nhặt một khoan. Cách đệm trống này trong ngôn ngữ hát chầu gọi là chầu ấm đám. Ngắm xong, chiêng trống và đội đánh trắc ở cuối nhà thờ nổi lên một hồi, bồi tế gõ mõ, đoàn rước bái qùy và rước viên chức ngắm xuống cuối nhà thờ. Giáo dân lại đọc 10 kinh kính mừng. Chú giúp lễ tắt một ngọn nến trên vì kèo ngắm. Đến kinh thứ 8 đoàn rước lại rước viên chức khác lên ngắm. Ngày xưa chỉ có đàn ông được để cử lên ngắm và coi đó là một vinh dự nên hàng xứ thường chia 15 ngắm cho các chức việc, các hội đoàn, các người có công lao hay danh vọng trong giáo xứ.. Trước năm 1954 nhiều ông không biết chữ, nhưng thuộc lòng một số ngắm, do vậy bài ngắm vẫn diễn ra một cách trôi chảy. Sau mỗi phiên ngắm, giáo dân có tục lệ phẩm bình, chấm điểm các người lên ngắm xem ông nào ngắm hay. Vì nguyên nhân này mà trong các xứ đạo ngày xưa có tục thi Ngắm Nhân Tài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Ngắm Nhân Tài:</strong> Ngắm thi. Ở miền Bắc trước năm 1954, một số giáo xứ lớn có phong tục thi ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu để xem ai, họ nào có người ngắm hay nhất. Ngắm Nhân Tài diễn ra vào ba ngày cuối của tuần thánh, nhưng lồng vào đó tinh thần thi đua. Trong khi ngắm có vị giám khảo cầm trống chầu. Viên chức ngân nga hay, giám khảo điểm trống khen thưởng, nếu ngắm sai, phạm các lỗi như không cúi đầu, không bái gối khi đọc tới danh thánh Chúa Giêsu, giám khảo gõ ra tang trống. Nguyên tắc này giống nguyên tắc cầm chầu trong các phiên chầu hát tại các đình làng ngày xưa. Ngày nay, lễ nghi ngắm 15 sự thương khó đã đơn giản nhiều, nhất là ở hải ngoại, không còn ngắm nhân tài nữa và các bà cũng lên ngắm. Người lên ngắm chỉ mặc áo trắng, đội khăn tang. Cung giọng cũng bớt ngân nga và không còn đội chiêng, trống, trắc làm cho sinh hoạt giáo xứ rộn lên trong Tuần Thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Ngắm Dấu Đanh:</strong> Trong các xứ đạo ngày xưa, vào hồi 10 giờ sáng thứ Tư tuần thánh, giáo dân đến nhà thờ Ngắm Năm Dấu Đanh. Gọi là Ngắm 5 Dấu Đanh vì đó là 5 bài suy niệm ngắn về năm dấu đanh trên thân xác Chúa Giêsu. Cách ngắm và cung giọng cũng gần giống như ngắm 15 Sự Thương Khó nhưng bớt ngân nga hơn. Theo tục lệ, ngắm thứ nhất thường dành cho thầy giúp xứ, còn 4 ngắm kia được phân chia cho giáo dân. Sau đây là phần dẫn nhập và nội dung ngắm thứ nhất trong Ngắm Năm Dấu Đanh:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Phép lần hạt năm dấu thánh Đức Chúa Giêsu ba mươii kinh Lậy Cha cùng năm kinh Kính Mừng chia ra làm sáu phần. Thứ nhất thì ngằm: Khi quân dữ bắt chân tả Đức Chúa Giêsu vào Thánh Giá mà đóng đanh sắt bằng mũi đau đớn lắm, máu chảy xuống dòng dòng. Khi ngắm sự ấy thì nguyện năm kinh Lậy Cha, lậy ơn Đức Chúa Giêsuchịu đóng đanh chân tảvì chúng tôi đi đàng trái, cùng nguyện một kinh Kính Mừng thương Đức Mẹ đau đớn trong lòng, như phải đóng đanh vậy. Xin cho chúng tôi chừa đi đàng trái, là chớ làm tội lỗi mất lòng Đức Chúa Giêsu nữa. Amen.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Ngắm Đứng:</strong> Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu. Vì viên chức lên ngắm đứng trước bàn thờ nên Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu còn được gọi là Ngắm Đứng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Ngắm Nhân Sao:</strong> Trong Tuần Thánh, sau khi ngắm 15 sự thương khó Đức Chúa Giêsu, nhiều giáo xứ còn có nghi thức Ngắm Nhân Sao hay còn gọi là Hỏi Nhân Sao. Ngắm Nhân Sao là tìm hiểu tại sao linh hồn Chúa Giêsu chịu mọi sự thương khó. Gọi là Nhân Sao hay <strong>Hỏi Nhân Sao</strong> vì khi ngắm, giáo dân chia làm hai bè. Một bên hỏi, một bên thưa. Sau đây là là câu đầu tiên của Ngắm Nhân Sao:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Nhân Sao Đức Chúa Giêsu chịu thằng Giuda bán? Ta chịu bán cho được chuộc tội con.<br />
Nhân sao Đức Chúa Giêsu cầu nguyện lâu làm vậy? Ta cầu cùng Đức Chúa Cha kẻo qưở phạt con…</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Ngắm Rằng: </strong>Trong các xứ đạo ngày xưa, vào hồi 10 giờ sáng thứ Tư và thứ Sáu tuần thánh, giáo dân đến nhà thờ ngắm. Thứ Tư Ngắm Năm Dấu Đanh, thứ Sáu Ngắm Rằng. Hai loại ngắm có sự liên hệ. Ngắm Dấu Đanh mô tả vắn tắt về suy niệm các dấu đanh, Ngắm Rằng là quảng diễn sự suy niệm cách rộng rãi hơn. Do vậy nhiều đoạn văn trong Ngắm Dấu Đanh được lập lại trong Ngắm Rằng. Gọi là Ngắm Rằng vì câu đầu trong phần suy niêm được bắt đầu bằng chữ Ngắm Rằng. Sau đây là phần đầu của Ngắm Rằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Phép lần hạt năm dấu thánh Đức Chúa Giêsu ba mươi kinh Lậy Cha cùng năm kinh Kính Mừng chia ra làm sáu phần. Thứ nhất thì ngằm: Khi quân dữ bắt chân tả Đức Chúa Giêsu vào Thánh Giá mà đóng đanh sắt bằng mũi đau đớn lắm, máu chảy xuống dòng dòng. Ngắm Rằng Đức Chúa Giêsu là con thật Đức Chúa Trời…. </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cung giọng Ngắm Rằng giống Ngắm Năm Dấu Đanh đều không ngân nga dài dòng như Ngắm 15 Sự Thương Khó, chỉ ngâm một chút ở cuối câu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguyện Ngắm: </strong>Nguyện 愿: từ Hán Việt có nghĩa là cầu xin, xin điều mong muốn. Ngắm: từ Nôm lấy dạng từ Ngâm 吟 trong Hán Việt có nghĩa là nhìn kỹ. Ngắm cũng có âm khác là Ngẫm. Miền Bắc dùng từ Ngắm, miền Nam dùng từ Ngẫm hay Gẫm. Vì vậy có từ Nguyện Gẫm. Nguyện Ngắm hay Nguyện Gẫm là cầu nguyện bằng suy niệm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Đặc Ngữ Công Giáo (14)</strong></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2012/03/14/ng%e1%ba%afm-va-cac-phong-t%e1%bb%a5c-ng%e1%ba%afm-trong-ph%e1%bb%a5ng-v%e1%bb%a5-mua-chay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm Hiểu Sự Thật Về Cuộc Khổ Nạn Của Đức Giêsu (tiếp theo và hết)</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2012/03/14/tim-hi%e1%bb%83u-s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt-v%e1%bb%81-cu%e1%bb%99c-kh%e1%bb%95-n%e1%ba%a1n-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%a9c-giesu-ti%e1%ba%bfp-theo-va-h%e1%ba%bft/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2012/03/14/tim-hi%e1%bb%83u-s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt-v%e1%bb%81-cu%e1%bb%99c-kh%e1%bb%95-n%e1%ba%a1n-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%a9c-giesu-ti%e1%ba%bfp-theo-va-h%e1%ba%bft/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 14 Mar 2012 02:32:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DangTrinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Loan báo Tin Mừng]]></category>
		<category><![CDATA[Đức tin & Đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=5106</guid>
		<description><![CDATA[II. NHỮNG TRÌNH THUẬT KINH THÁNH Truyền thống phụng vụ của Giáo hội cử hành... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2012/03/14/tim-hi%e1%bb%83u-s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt-v%e1%bb%81-cu%e1%bb%99c-kh%e1%bb%95-n%e1%ba%a1n-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%a9c-giesu-ti%e1%ba%bfp-theo-va-h%e1%ba%bft/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>II. NHỮNG TRÌNH THUẬT KINH THÁNH</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Truyền thống phụng vụ của Giáo hội cử hành cuộc khổ nạn của Đức Giêsu với việc thiết lập Bí tích Thánh Thể vào tối thứ năm tuần thánh. Các sách Tin mừng cùng bắt đầu trình thuật biến cố Đức Giêsu chịu đau khổ, chịu chết từ bữa tiệc ly.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>1. </strong><strong>Bữa tiệc ly</strong><strong></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đây là biến cố quan trọng trong cuộc đời của Đức Giêsu và các môn đệ, khởi đầu cho việc Đức Giêsu chịu đau khổ và chịu chết. Tân ước ghi lại bốn trình thuật về bữa tiệc của thầy Giêsu với các đồ đệ. Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô có tường thuật lại biến cố này (1 Cr 11,23-25) và cả ba tác giả Tin mừng Nhất lãm cũng ghi lại (Mc 14,22-25; Mt 26,26-29; Lc 22,19-20).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tin mừng Nhất lãm đặt bữa tiệc ly trong bối cảnh bữa tiệc người Dothái cử hành lễ Vượt qua. Thánh Máccô viết: “<em>Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, là ngày sát tế Chiên vượt qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt qua ở đâu</em>?” (Mc 14,13)[1]. Thầy trò Đức Giêsu dùng bữa tiệc ly như bữa tiệc Vượt qua của mọi người Dothái khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chiều tối, các môn đệ quây quần xung quanh Thầy bên bàn tiệc và Đức Giêsu nói: “<em>Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt qua này nữa, cho tới khi lễ này được nên trọn trong Nước Thiên Chúa</em>” (Lc 22,15-16) .</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">So sánh trình thuật Đức Giêsu chịu khổ hình trong Tin mừng Nhất lãm với trình thuật Tin mừng Gioan, ta thấy có sự khác biệt. Theo thánh Gioan, Đức Giêsu chết trên thập giá vào chính lúc người Dothái bắt đầu mừng lễ Vượt qua (Ga 13,1; 18,24; 19,14). Như vậy Đức Giêsu không thể dùng bữa Vượt qua này, vì vụ án Đức Giêsu được xử vào áp lễ Vượt qua.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Làm sao dung hòa được những khác biệt không nhỏ này? Tin mừng Nhất lãm thì nói Đức Giêsu bị bắt sau khi đã dùng bữa Vượt qua, còn Tin mừng  Gioan lại cho thấy Đức Giêsu bị xử trước lễ Vượt qua. Các học giả đưa ra nhiều giải thích khác nhau. Có người cho rằng vào thời đó có hai loại lịch: lịch của các tư tế Giêrusalem và lịch của cộng đoàn Etxêno.[2]Theo lịch của các tư tế thì lễ Vượt qua được mừng vào đúng ngày rằm tháng Nisan, bất kể là ngày nào trong tuần; còn lịch của cộng đoàn Etxêno thì mừng lễ vào ngày thứ ba trong tuần. Trên cơ sở này, chúng ta có thể hiểu việc Đức Giêsu ăn lễ Vượt qua theo lịch của cộng đoàn Etxêno vào ngày thứ ba, còn thánh Gioan thì cho rằng Đức Giêsu đã theo lịch ở đền thờ Giêrusalem, năm ấy ăn mừng lễ Vượt qua vào ngày Sabát. Một ý kiến khác cho rằng sở dĩ thánh Gioan mô tả Đức Giêsu chịu chết vào đúng ngày dân Dothái mừng lễ Vượt qua là do ngài có dụng ý thần học. Chính Đức Giêsu là Chiên vượt qua, là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian (Ga 1,29; 19,33-36). Tuy nhiên, chúng ta chưa bàn ở đây những khiá cạnh thần học, mà chỉ nêu lại một biến cố quan trọng, biến cố gây ấn tượng sâu sắc trong lòng các môn đệ trước khi Đức Giêsu chịu khổ hình thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong bữa tiệc này, những lời Đức Giêsu tiên báo về cuộc khổ hình của Người trước kia giờ đây sắp nên hoàn trọn. Chỉ một lời của Người nói kèm với chén rượu, chúng ta cũng có thể cảm nhận được “sức nặng” của những giây phút trọng đại này: “<em>Đây là máu Thầy đổ ra cho các con</em>” (Lc 22,20). Đức Giêsu đã tự hiến mình cho Thiên Chúa Cha, cho cả nhân loại này, và để lộ ra một tình yêu sâu thẳm, khôn cùng. Những việc làm trong bữa tiệc ly đã trở nên một giá trị biểu tượng của lòng yêu mến và khiêm hạ: lấy thịt mình để nuôi nhân loại và cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ. Sau bữa tiệc, Đức Giêsu đi vào hồi thương khó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/Chua_GS3.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5107" title="Chua_GS3" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/Chua_GS3.jpg" alt="" width="400" height="287" /></a>2. </strong><strong>Tại vườn Giếtsêmani</strong><strong><a href="http://kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=2471#3"><span style="color: #000000;">[3]</span></a></strong><strong></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào khoảng gần nửa đêm, Đức Giêsu cùng các môn đệ rời nhà tiệc ly đi về vườn Giếtsêmani. Chắc hẳn Người đã đi theo con đường thoai thoải hình tam cấp dẫn xuống thung lũng gọi là Tyropéon mà các nhà khảo cổ đã khai quật tìm được, để ra khỏi thành qua cửa Suối Nước. Đoàn người lầm lũi đi theo hướng Bắc tiến về suối Cedron. Dọc đường, Đức Giêsu còn căn dặn các môn đệ những lời cuối cùng: “<em>Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy, vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên và đàn chiên sẽ tan tác</em>” (Mt 26,31). Chúng ta bắt gặp nơi đây hình ảnh năng động của tông đồ trưởng Phêrô, một người nhiệt tình sôi nổi: “<em>Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng sẽ không bao giờ vấp ngã</em>”. Đức Giêsu bảo ông: “<em>Thầy bảo thật anh: nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần</em>” (Mt 26,33-34). Ông Phêrô còn khẳng định thêm một lần nữa: “<em>Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy</em>”; và không chỉ Phêrô thề thốt mà thôi, các môn đệ cũng đều nói như thế (Mt 26,35). Nhưng sự tình thế nào, hẳn chúng ta đã rõ, khi Đức Giêsu bị bắt, các ông chạy tán loạn, chỉ còn ông Phêrô là “can đảm” theo Thầy xa xa và cuối cùng đã chối Thầy, đúng như lời Đức Giêsu tiên báo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngày nay, ngoài vườn Giếtsêmani còn một động đá mệnh danh là “hang phản bội”, hẳn để nhắc lại biến cố đau lòng của Phêrô và các môn đệ đã bỏ Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tại vườn Giếtsêmani, Đức Giêsu đã trải qua những giây phút cuối đời đầy sợ hãi và đau khổ. Hãy nghe lời Ngài nói với các môn đệ: “<em>Tâm hồn Thầy buồn đến chết được, anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy</em>” (Mt 26,38). Lúc này, tâm hồn Người nặng trĩu, lo sợ, luôn hướng về Chúa Cha và cầu nguyện tha thiết. Thánh Luca miêu tả: “<em>Mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất</em>” (Lc 22,44).[4]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Giêsu đã trải qua cơn hấp hối trong vườn Giếtsêmani này. Theo tiếng Hylạp, “Agonic” (cơn hấp hối) có nghĩa là sức cố gắng tuyệt mức của một lực sĩ trong hí trường, được áp dụng cho cuộc đối kháng cuối cùng của con người với sự chết. Cơn hấp hối của Đức Giêsu cũng là một cuộc đối đầu với những nỗi phiền não tận cùng như hãi hùng xao xuyến (Mc 14,33), buồn bã (Mc 14,34)… Bossuet giải thích: “<em>Sự buồn bực làm cho linh hồn không muốn sống, coi thời gian như một khối nặng ; sự lo sợ làm đảo lộn tâm hồn trước viễn cảnh nhiều khốn khó sắp đổ xuống; sự ưu phiền phủ xuống một màu tang tóc và sự suy nhược làm mất hết nhuệ khí</em>”.[5] Đó là những nỗi gian truân đau khổ đè nặng trên tâm hồn và thể xác Đức Giêsu trong vườn Giếtsêmani. Nỗi khổ này lên đến cực độ khiến Người phải kêu lên: “<em>Abba, Cha ơi! Cha có thể làm được mọi sự, xin tha cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha</em>” (Mc 14,36). Cơn bão lòng nổi lên dữ dội, ba lần Đức Giêsu đi cầu nguyện, các môn đệ vẫn ngủ vùi. Giờ của Người sắp đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cuộc đấu tranh nội tâm của Đức Giêsu lắng đọng lại, Người đứng dậy trở về chỗ các môn đệ đang ngủ và bảo các ông: “<em>Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao? Thôi đủ rồi. Giờ đã điểm. Này Con Người bị nộp vào tay phường tội lỗi. Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới</em>” (Mc 14,41-42), xa xa vẳng lại tiếng bước chân rầm rập, tiếng giáo mác khua động và những ánh lửa lập loè trong bóng cây đêm tối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>3. Đức Giêsu bị bắt</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cả bốn thánh sử đều cho biết việc Đức Giêsu bị bắt không phải là điều ngẫu nhiên, tất cả đều có tính toán xếp đặt. Theo thánh sử Máccô (14,1-2) và Luca (22,1-2), hai ngày trước lễ Vượt qua, các thượng tế và kinh sư tính kế bắt Người và giết đi. Thánh Mátthêu còn cho biết là các thượng tế và kỳ mục đã họp nhau tại nhà thượng tế Caipha; còn theo thánh sử Gioan (11,47), các thượng tế và người Pharisêu triệu tập Thượng hội đồng dưới quyền chủ toạ của Caipha.[6]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trước khi đi vào chi tiết việc Đức Giêsu bị bắt, chúng ta thử tìm hiểu tại sao Đức Giêsu bị thanh trừng như vậy? Trước kia nhóm Pharisêu và nhóm Hêrốt đã âm mưu thanh toán Người, khi Người mới xuất hiện ở Galilê. Đức Giêsu bị ghép vào tội phạm thượng, vi phạm lề luật (Mc 3,6; Mt 12,14), và giờ đây, khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, có đám đông tháp tùng  hò la vang dội, phải chăng đã đến giờ Người “phất cờ khởi nghĩa”? Người là ai mà dám xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ? Người muốn lật đổ quyền bính tôn giáo hay sao? Quân Rôma lúc này mà mượn cớ kéo đến can thiệp thì mạng sống người dân và đền thánh Giêrusalem cũng khó bề giữ được. Giết quách ông Giêsu này đi là thượng sách! Và việc gì đến đã đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cuộc mưu sát Đức Giêsu đã được chuẩn bị kỹ càng, những chi tiết đều được xem xét cẩn thận, đề phòng mọi bất trắc. Vị thượng tế có một số gia nhân và một đội dân quân lo việc trật tự nơi đền thờ. Nhưng để tránh phiền phức với chính quyền Lamã, ông đã xin Tổng trấn Philatô cấp cho một tiểu đội lính do một sĩ quan chỉ huy. Thánh Gioan hai lần nhắc tới điều này (Ga 18,3.12).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Giuđa Iscariốt được trao trách nhiệm dẫn đường. Có lẽ vì ông là môn đệ nên biết rõ đường đi nước bước của Thầy. Ông nắm chắc rằng sau khi dự tiệc Vượt qua, Thầy không thể về lại Bêtania được, vì trời đã khuya và đoạn đường lại dài vượt con số giới hạn luật cho phép được đi trong ngày Sabát. Chỉ còn lại vườn Giếtsêmani, nơi Thầy đã có lần trải qua đêm, và nhất là Thầy hay đến đó cầu nguyện. Những gì ông phỏng đoán đã được kiểm chứng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tại đồn Antônia,[7] tiểu đội Lamã chuẩn bị đèn đuốc như một cuộc hành quân đêm, họ chỉ có phận sự yểm trợ, đề phòng bất trắc. Việc bắt giải Đức Giêsu thuộc quyền toán quân đền thờ và gia nhân vị thượng tế. Màn đêm bao trùm cả thành phố Giêrusalem, mọi người đã yên giấc, trong khi đó Đức Giêsu sắp sửa bị bắt như một tên tội phạm. Liên can đến vụ án này, thánh sử Mátthêu nói đến các gia nhân vị thượng tế và các kỳ lão trong dân (Mt 26,47), Luca nói đến các thầy cả thượng phẩm, các trưởng vệ binh đền thờ và các bô lão (Lc 22,52), còn thánh Gioan nhắc đến các biệt phái và tiểu đội lính với vị chỉ huy (Ga 18,3).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lúc này, cái hôn của Giuđa là dấu hiệu để cho quân lính bắt Đức Giêsu. Lẽ thường, nụ hôn là cử chỉ thân thiện người thân trao cho nhau, còn đây, nụ hôn của Giuđa như một cái tát tai nảy lửa, là dấu hiệu nộp Thầy. Theo ám hiệu, toán quân và gia nhân xông tới bắt Đức Giêsu. Các môn đệ hoảng loạn bỏ trốn. Một mình Đức Giêsu với toán quân hùng hổ, Người bị điệu đến vị thượng tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>4. Việc xử án</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Theo các trình thuật của Tin mừng, chúng ta có thể dựng lại diễn tiến việc xử án Đức Giêsu qua hai phiên tòa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>a. Phiên tòa Do thái</em></strong><strong><em> </em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Theo Tin mừng Nhất lãm, sau khi bị bắt, Đức Giêsu bị điệu ngay tới thượng đế Caipha, nơi đó các thượng tế, kỳ mục và kinh sư đang hội họp. Đức Giêsu bị thẩm vấn cùng chịu lăng nhục như bị bịt mắt, đấm đánh, khạc nhổ vào mặt… (Mc 14,15; Mt 26,67-68; Lc 22,63-65). Còn thánh Gioan thì cho rằng Đức Giêsu bị điệu ngay ra trước ông Khana để thẩm vấn rồi sau đó mới qua thượng tế Caipha và bị giam lại ở đây. Tại sao Đức Giêsu lại bị điệu đến Khana mà không trực tiếp giao cho vị thượng tế đương nhiệm là Caipha? Câu trả lời là vì Khana lắm thực quyền không cần chức vụ, Caipha là con rể giữ chức thượng tế nhưng chỉ như nhân vật bù nhìn, như tấm bình phong che mắt chính quyền Lamã. Vì thực tế Khana bị tổng trấn Valerius Gratus bãi chức, nhưng ông vẫn được coi là người kế vị hợp pháp của thầy cả thượng phẩm Aharon. Như vậy, cuộc tra tấn của Khana là bất hợp pháp[8] không có biện lý, không có đủ túc số nhân viên hội đồng, hiện diện chỉ là một toán người hung hăng đã áp giải Đức Giêsu từ vườn Giếtsêmani.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đây là một vụ xử án ban đêm, phiên tòa xét xử gồm các thượng tế, kỳ mục và kinh sư (theo thánh sử Máccô và Mátthêu). Phiên tòa này kéo dài cho đến sáng, hay sáng hôm sau còn một phiên tòa khác, đây là điều còn nhiều tranh luận. Thánh Luca chỉ nhắc tới một phiên tòa ban sáng mà thôi (Lc 22, 66-71).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Về phương diện pháp lý, sách <em>Mishna</em> cho thấy luật của Thượng hội đồng không cho phép xử các vụ đại hình vào ban đêm hay vào các ngày đại lễ hoặc áp lễ. Ngoài ra, bản án tử hình chỉ trở thành chung thẩm sau hai phiên tòa xét xử. Hơn nữa, vào thời Đức Giêsu, Thượng hội đồng bị tước mất thẩm quyền lên án tử hình, quyền này thuộc chính quyền Rôma. Như vậy, sự thật vụ án Đức Giêsu là như thế nào, có tính lịch sử hay chỉ là hộ giáo?[9]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trả lời cho vấn nạn này, Rinaldo Fabris cho thấy những thủ tục hình sự ghi trong sách <em>Mishna</em> là bộ sưu tập án lệ vào thế kỷ II scn, vì thế không chắc có được thi hành vào thời Đức Giêsu. Hơn nữa, chẳng ai bảo đảm được ràng Thượng hội đồng đã tuân hành nghiêm chỉnh những luật lệ này. Bằng chứng là sách <em>Công vụ Tông đồ</em> cho thấy hai ông Têphanô và Giacôbê bị ném đá chết mà chẳng hề có xét xử gì cả (Cv 7,55 &#8211; 8,4; 12,2).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Về phiên tòa xét sử Đức Giêsu, các sử gia đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, nhưng cũng là những giả định hơn kém. Thực ra, các thánh sử không chủ trương miêu tả chi tiết phiên tòa, nhưng chỉ muốn cho thấy xung khắc giữa giới lãnh đạo tôn giáo Dothái và Đức Giêsu lên đến cao trào, vì họ cho là Người đã làm những điều trái tai gai mắt, ăn nói lộng ngôn, vi phạm lề luật, lạm dụng quyền bính (đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ…) đó cũng là những lý do họ đã kết án Người. Vấn đề là chờ cơ hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Theo luật Môsê, muốn kết án tử hình một người, buộc phải có hai hay ba nhân chứng phù hợp. Thế nhưng trong vụ án Đức Giêsu, không có những nhân chứng theo đúng luật định, chỉ có hai người làm chứng gian đến cung khai. Một người khai rằng: “<em>Người này đã nói: tôi có thể phá đền thờ Thiên Chúa và nội trong ba ngày, sẽ xây cất lại</em>” (Mt 26,61). Người kia khai rằng: “<em>Chúng tôi có nghe ông ấy nói: tôi sẽ phá đền thờ do tay người phàm xây dựng và nội ba ngày, tôi sẽ xây một đền thờ khác, không phải do tay ngươi phàm</em>!” (Mc 14,58). Ta thấy hai lời cung khai này không phù hợp nhau, và cũng chẳng phản ánh đúng những lời Đức Giêsu đã nói: “<em>Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại</em>” (Ga 2,19). Trước những luận điểm vu khống Đức Giêsu chỉ im lặng, mặc cho Caipha gặn hỏi: “<em>Ông không nói lại được một lời sao? Mấy người này tố cáo ông gì đó?</em>” (Mt 26,62).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hồi gay cấn sắp đến lúc kết thúc, vị thượng tế đã đặt một câu hỏi trực tiếp liên quan đến căn tính của Đức Giêsu: “<em>Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng đáng chúc tụng không?</em>” (Mc 14,61 tt). Đức Giêsu đã xác nhận vai trò của mình và như một cơ hội Người giải thích ý nghĩa từ Mêsia, Đấng Kitô cho họ. Và lời giải thích này bị coi như một chứng cớ phạm thượng. Họ đã kết án Đức Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng làm sao có thể tử hình Đức Giêsu đây? Thượng hội đồng không có quyền này, hơn nữa, về phía chính quyền Rôma thì sao? Cứ giao về cho Tổng trấn Philatô là thượng sách!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>b. Phiên tòa Rôma</em></strong><strong><em> </em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu như tại phiên tòa Dothái, Đức Giêsu bị kết án vì lý do tôn giáo, thì bây giờ tại phiên tòa Rôma, Đức Giêsu lại bị kết án vì lý do chính trị. Đức Giêsu bị giải đến trước tòa Phongxiô Philatô, ông là vị Thủ hiến kiêm Tổng trấn toàn quyền xứ Giuđêa.[10]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Theo sử gia Josephus Flarius, vào thời ấy, các Tổng trấn được hoàng đế ủy quyền tư pháp rộng rãi, kể cả quyền lên án tử hình. Nhất là đối với các ngoại kiều, quyền này cũng được áp dụng rộng rãi hơn, đặc biệt với các cuộc bạo loạn cần kịp thời ngăn chặn. Như vậy, Philatô có quyền chặt đầu Đức Giêsu ngay mà không cần phiên toà xét xử.(!?) Tuy nhiên, Tin mừng cho thấy Philatô đã không áp dụng thiết quân luật này, một vài nguyên tắc tố tụng hình sự đã được tôn trọng: phiên tòa xử công khai chứ không kín đáo, bị cáo được quyền lên tiếng, biện minh… tục truyền là phiên tòa xử Đức Giêsu đã diễn ra tại đồn Antonia nằm ở mạn Đông Bắc đền thờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phiên tòa lập ra để xử bị cáo như một tội phạm chính trị. Tổng trấn điều tra cặn kẽ xem Đức Giêsu có phải là vua dân Dothái không (Mc 15,2. 9.12. 26. 32; Mt 27,11), dân chúng thì tố cáo Người về tội xách động dân chúng, ngăn cản dân nộp thuế cho hoàng đế Xêda, và lại còn tự xưng mình là Mêsia, là vua nữa. Ngay cả bản án Đức Giêsu cũng nói rõ điều này: “<em>Giêsu Nadarét, vua dân Dothái</em>”. Thực chất đây chỉ là những chứng cứ giả tạo, và ngay cả Philatô cũng không tìm thấy được lý do gì để kết án tử hình, ông muốn cho đánh đòn cảnh cáo Đức Giêsu rồi tha về.[11]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ý định này của Philatô không thành, ông còn bị áp lực mạnh mẽ của dân chúng. Như thế, có thực đám đông giữ vai trò quyết định cái chết của Đức Giêsu lúc này? Việc đám đông la ó đòi giết Đức Giêsu chỉ là một hiện tượng tâm lý quần chúng hay là có khoản luật nào dành cho họ quyền này không? Một số sử gia nghiên cứu về luật pháp cho rằng ở một vài thành phố miền Đông đế quốc Rôma có qui định  giao các bản án tử hình cho quần chúng nhân dân xét xử. Tuy nhiên, trường hợp ở Giêrusalem, phiên tòa xử Đức Giêsu thì điều này không chắc chắn.[12]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để đẹp lòng dân và một mặt Philatô cũng sợ dân kiện tụng lên hoàng đế, nên khi biết Đức Giêsu là người Galilê, thuộc quyền vua Hêrôđê Antipas, ông này hiện đang có mặt ở Giêrusalem, nên Philatô truyền dẫn Đức Giêsu đến dinh Hêrôđê.[13]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hêrôđê đã nghe nói nhiều về Đức Giêsu, có người cho đó là hồn Gioan Tẩy Giả, người chính ông ra lệnh chém đầu, đã nhập vào Đức Giêsu; lại nghe đồn Đức Giêsu làm rất nhiều phép lạ…, nên ông mong mỏi một lần được gặp Người. Hôm nay, khi thấy Đức Giêsu thì ông mừng lắm, nhà vua hỏi Người nhiều điều, nhưng Đức Giêsu vẫn thinh lặng. Cuối cùng Hêrôđê phẫn nộ và cho đây là một hành động khi quân, nên ông đã tìm cách báo thù theo kiểu cách của ông. Ông tỏ ra khinh con người mà ông vừa vồn vã đón tiếp. Ông lấy một tấm áo rực rỡ mặc cho Người, chế diễu Người xong họ lại giải về trao trả cho Philatô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dân chúng lại hò la vang dội: “<em>Hãy để cho máu nó đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi</em>” (Mt 27,25). Trước áp lực mạnh mẽ của dân, Philatô rửa tay như muốn trốn tránh trách nhiệm,[14] rồi ông truyền phóng thích Baraba, còn Đức Giêsu sau khi truyền đánh đòn, ông trao lại cho họ đóng đinh vào thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bản án Đức Giêsu khép lại. Tuy nhiên khi tìm về lịch sử, chúng ta tự hỏi ai là người lãnh trách nhiệm trước cái chết của Đức Giêsu?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có ý kiến quy trách nhiệm cho Thượng hội đồng Dothái, Philatô chỉ là người duyệt bản án Thượng hội đồng Dothái đã quyết định và cho phép thi hành. Như vậy, trách nhiệm của ông giảm nhẹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có người cho rằng tội của Philatô rất nặng, vì ông nhu nhược không dám hành xử theo đúng quyền của mình, biết Đức Giêsu vô tội mà vẫn để dân chúng xách động, cuối cùng đã kết án tử hình Người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ý kiến khác nữa quy trách cho đám đông dân chúng. Philatô hay Thượng hội đồng Dothái chẳng làm gì khác được. Ý kiến này muốn bênh vực, chạy tội cho Philatô, có thể vì lý do tế nhị: sau vụ án Đức Giêsu mấy chục năm Tin mừng mới được viết ra, lúc này công việc truyền giảng đang được đẩy mạnh, đặc biệt ở Rôma, nên không thể quy trách cho Philatô, một tránh né tế nhị để rao giảng Tin mừng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, chúng ta không đặt nặng vấn đề trách nhiệm thuộc về ai, dù sao Đức Giêsu cũng đã chết, một sự kiện lịch sử rõ ràng, đó là điều chúng ta đang tìm hiểu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/Chua_GS2.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5108" title="Chua_GS2" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/Chua_GS2.jpg" alt="" width="400" height="287" /></a>5. Cuộc hành quyết</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>a. Đánh đòn</em></strong><strong><em> </em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Việc đánh đòn các tử tội được nhiều sử gia Rôma ghi lại như một thủ tục của hình luật, mở đầu cuộc hành quyết. Hình khổ này không được áp dụng cho các công dân Rôma, mà chỉ dành cho ngoại kiều. Tội nhân bị lột trần, trói vào một cây cột trong tư thế khom lưng, đối tượng đón lấy trận mưa đòn. Hình cụ là những dây da cứng, đầu mút có hai thỏi chì hoặc những mũi nhọn gọi là “bò cạp”. Đức Giêsu đã chịu những trận đòn như thế, hơn nữa, quân lính còn bày trò ra để chế nhạo Người. Họ nghĩ ra nghi lễ đăng quang, mặc cho Người một áo đỏ, lấy vòng gai làm vương miện đội lên đầu Người, rồi họ cung kính bái chào: “<em>Vạn tuế Đức vua dân Dothái</em>” (Mc 15,16-18). Chúng còn dùng cây sậy đập lên đầu Người, khạc nhổ vào mặt Người, rồi lại quỳ gối bái lạy. Tấn khổ hình đã trở nên như một trò tiêu khiển, thú vui con người dành cho con người!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>b. Vác thập giá</em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tiếp sau cuộc đánh đòn, tử tội phải vác thập giá tới nơi hành hình. Theo chứng tích của các sử gia Rôma, các nạn nhân chỉ vác thanh ngang (Patibulum) mà thôi[15]; tuy nhiên cũng có những trường hợp tử tội phải vác cả thập giá.[16] Tới pháp trường, nạn nhận bị treo lên cây cột đã chôn sẵn. Tử tội có thể bị cột vào thập giá hoặc bị đóng đinh, Đức Giêsu bị đóng đinh vào thập giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Theo các thánh sử, dọc đường quân lính bắt ông Simon Kyrênê vác thập giá cho Đức Giêsu (Mc 15,21). Ông Simon là người Dothái gốc Kirênê, thuộc miền Bắc Phi, nơi có một cộng đoàn Dothái (xc. Cv 6,9), có lẽ ông đi về Giêrusalem dự lễ Vượt qua. Thế là ông bị cưỡng bức lao động, vì họ sợ Đức Giêsu bị chết dọc đường không đủ sức đến nơi hành quyết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điểm hành quyết là đồiGolgotha, nghĩa là đồi Sọ,[17]nơi đã chôn sẵn thanh dọc của thập giá. Tin mừng cũng cho biết thêm chi tiết, có hai tử tội cùng chịu hành quyết với Đức Giêsu. Tại Rôma lúc bấy giờ, hình phạt thập giá là một cực hình không những chỉ đau đớn mà còn làm cho tử tội thêm nhục nhã, bị lột trần treo lên cho kẻ qua người lại chế diễu. Hình phạt này chỉ dành cho tiện dân, nô lệ và ngoại kiều, công dân Rôma không bị xử theo hình phạt này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để giúp tử tội bớt đau đớn và chóng chết, họ đánh gẫy ống chân nạn nhân để họ không còn sức chống đỡ thân xác, sức nặng toàn thân kéo xuống, xương ngực giãn ra và làm căng lồng ngực, buồng phổi đầy khí vào nhưng không thoát ra được, vì các bắp thịt thở ra bại dần, nạn nhân ngộp dần và chết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đức Giêsu vì quá sức chịu đựng  đã chết trước khi quân lính đến, nên khi thấy Người đã chết, họ không đập gẫy ống chân Người nữa. Nhưng dã man hơn, một tên lính đã lấy đòng đâm vào cạnh sườn Người, đụng ngay vào trái tim: máu cùng nước chảy ra.[18] Đức Giêsu đã thực sự tắt thở, Người như một kẻ công chính bị bách hại, ứng nghiệm những gì Kinh thánh đã nói về Người tôi tớ đau khổ của Giavê. Những chi tiết của Tin mừng cho thấy điều đó. Chẳng hạn như việc Đức Giêsu uống rượu pha mật đắng, một đàng là theo thói quen của người  Dothái thường làm cho các tử tội, giúp cho tử tội bớt đau đớn, đàng khác sự kiện này dựa theo sách <em>Châm Ngôn</em> 31,6; theo lời <em>Thánh vịnh</em> 69,2: “<em>Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng, con khát nước lại cho uống giấm chua</em>”. Việc Đức Giêsu bị lột áo và quân lính đem chia chác cũng được nhắc đến trong bối cảnh của Thánh vịnh 22,19: “<em>Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn</em>”. Tin mừng thuật lại sau cái chết của Đức Giêsu, nhiều điều lạ xảy ra, trời đất tối tăm, màn trong đền thờ thì xé ra… Ta có thể nói những yếu tố này được viết ra mang dụng ý thần học nhiều hơn là lịch sử… Theo Tin mừng thánh Gioan, Đức Giêsu qua đời vào ngày lễ vọng Vượt qua, các sử gia cho rằng đó là ngày thứ sáu, ngày 07. 04. 30 hay 04. 04. 33. Theo Tin mừng Nhất lãm thì Đức Giêsu qua đời vào ngày thứ sáu, sau lễ Vượt qua, có thể là ngày 27. 04. 31.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong><em>c. Việc mai táng</em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Theo tục lệ của người Dothái, thi hài tử tội phải được mai táng ngay. Hơn nữa, như Tin mừng Gioan thuật lại, vì ngày lễ Vượt qua đã tới, nên việc mai táng Đức Giêsu phải thi hành gấp rút. Cả bốn Tin mừng đều nói về việc Đức Giêsu được hạ xác xuống khỏi thập giá và an táng trong mồ (Mt 27,57-61; Mc 15,42-47; Lc 23,50-55; Ga 19,38-42). Tin mừng nói rõ đó là ngôi mộ mới của ông Giuse Arimathê, ông này là thành viên của Thượng hội đồng nhưng ông không tán thành việc kết án Đức Giêsu, hơn nữa, ông còn là môn đệ Đức Giêsu, nhưng chỉ là lén lút không dám công khai. Việc mai táng Đức Giêsu do chính ông cùng với một người bạn là ông Nicôđêmô, hai ông này đã tới xin phép Tổng trấn Philatô hạ xác Đức Giêsu, tẩm liệm và an táng trong mồ. Chứng kiến việc này, có vài phụ nữ</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">như bà Maria Mácđala và một bà khác cũng gọi là Maria (Mt 27,61); rồi đây chính các bà là người báo tin chứng kiến ngôi mộ trống vào sáng phục sinh (Mt 18,1). Việc an táng xong, các ông lăn tảng đá lấp cửa mộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh sử Mátthêu còn cho chúng ta biết thêm chi tiết, các thượng tế và người Pharisêu xin Tổng trấn cắt đặt một tiểu đội binh sĩ đến canh ngôi mộ, vì sợ rằng: “<em>Lúc sinh thời, tên bịp bợm ấy có nói: sau ba ngày ta sẽ trỗi dậy. Xin quan lớn truyền canh mộ cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy</em>” (Mt 27,63-64).[19] Họ ra đi đóng ấn niêm phong tảng đá, rồi cắt đặt lính canh gác ngôi mộ (Mt 27,66).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>KẾT LUẬN</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có lẽ sẽ không ai ngờ có vụ án cả 2000 năm sau người ta vẫn nhắc lại, vẫn bàn cãi; một tử tội gây xôn xao bao tâm hồn con người: có kẻ chống báng chê bai; có người ủng hộ, thương khóc. Và cũng chính Con Người ấy, ngày hôm nay cả thế giới biết đến, vạn vạn con tim rung động, dõi theo làm môn đệ. Con Người ấy đã chết và nay đang sống. “<em>Đức Giêsu, hôm qua, hôm nay, và mãi mãi vẫn là một</em>” (Dt 13,8).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngày nay có lẽ không ai phủ nhận Đức Giêsu là con người lịch sử thực sự. Lời đã đi vào trần gian và mặc lấy xác phàm (Ga 1,14), Lời mang một danh xưng cụ thể: Giêsu. Đức Giêsu ấy đã bị giết chết, dấu chứng lịch sử vẫn còn để lại; Đức Giêsu ấy đã sống lại, chứng từ niềm tin vẫn còn đó. Đức Giêsu đã làm cho lịch sử hữu hạn này mang lấy chiều kích siêu việt, vượt thời gian và không gian.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lật lại vụ án Đức Giêsu cũng là ôn lại một chặng đường lịch sử, lịch sử con người và cũng là lịch sử cứu độ. Dòng lịch sử với những con người tên tuổi cụ thể như Caipha, như Philatô, như Hêrôđê và dĩ nhiên là cả danh Giêsu nữa. Và đó cũng là dòng lịch sử được siêu thăng, lịch sử của những con người được cứu độ qua cái chết của Đức Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đứng trước cái chết của Đức Giêsu, bao vấn nạn lại được khơi dậy: ai là thủ phạm của cuộc sát hại này? Các thủ lãnh Dothái, Philatô hay đám đông dân chúng? Tự bao giờ, trong tâm thức của người Kitô hữu, ông Giuđa vẫn là một “tên phản bội”, là “thằng bán Chúa”; các thủ lãnh Dothái là những quân “Giurêu” ác độc… và cả dân Dothái bị qui trách cho tội giết Chúa. Mối hiềm khích giữa người Kitô hữu với người Dothái vẫn là một lỗ hổng lớn khó lấp đầy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những tư tưởng, lối nhìn như thế đã đến lúc phải thay đổi. Thực ra Đức Giêsu chết cho mọi người, trong đó có chúng ta, có cả những người Dothái nữa. Phải đặt mình trong lịch sử cụ thể, mới mong có được cái nhìn tạm gọi là công bằng; phải đặt mình vào tâm trạng của ngươi Dothái đã từng mất nước, từng lưu đầy, nhiệt thành với lề luật Môsê, mới có thể hiểu được nỗi lo: “<em>Mọi người sẽ tin vào Giêsu, rồi người Rôma sẽ đến phá hủy nơi thánh của ta lẫn dân tộc của ta</em>” (Ga 11,48), và như vậy chúng ta mới hiểu được quyết định: “<em>một người chết thay cho dân, còn hơn toàn dân bị tiêu diệt</em>” (Ga 11,49-50) là một quyết định sáng suốt. (?)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Biến cố Đức Giêsu chịu khổ hình diễn ra trong dòng lịch sử, nhưng đó cũng là một biến cố siêu lịch sử nữa, biến cố của niềm tin. Chẳng phải chúng ta đã tin rằng Đức Giêsu chịu chết là thánh ý Chúa Cha sao? Chẳng lẽ Đức Giêsu không vâng phục Cha, không làm cho những lời Kinh thánh viết về Người được nên hoàn trọn? Và nếu Đức Giêsu không chết đi thì tội chúng ta vẫn còn đó; chúng ta vẫn ngàn trùng xa cách Thiên Chúa, chúng ta vẫn không thể đền tội cho chính mình. Và nếu Đức Giêsu không chết đi, có lẽ cũng chẳng có giao ước mới, chẳng có Hội thánh… đặt vấn đề để chúng ta thêm lòng xác tín, chứ thực ra Thiên Chúa và chương trình của Người chẳng phải là những cái “nếu” của chúng ta!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Và như thế, người Dothái không phải chịu trách nhiệm tập thể về cái chết của Đức Giêsu.[20] Vì tính cách phức tạp về mặt lịch sử trong vụ án Đức Giêsu, Tin mừng cho chúng ta nhận ra những con người liên quan đến vụ án, còn phần trách nhiệm thuộc về ai điều đó Thiên Chúa biết, chúng ta không có quyền xét xử. Mặc dù  trong thực tế chúng ta có thể hình dung ra cả đám đông dân chúng hiếu kỳ, la ó (xc. Mc 15,11), và trong bài giảng sau lễ Hiện Xuống, các Tông đồ có trách móc cả người Dothái nữa (xc. Cv 2,33. 36; 3,13-14; 4,10; 5,30; 7,52; 10,39; 13,27-28; 1 Tx 2,14-15), nhưng Đức Giêsu đã tha thứ cho họ rồi. Chúng ta cũng không thể kết án người Dothái với những lời hò hét: “<em>Máu hắn cứu đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi</em>” (Mt 27,25). Vì Đức Giêsu đã nói: “<em>Họ lầm không biết việc mình làm</em>” (Lc 23,34), và thánh Phêrô cũng coi những người Dothái ở Giêrusalem và cái các thủ lãnh của họ đã hành động vì không biết (Cv 3,17).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tại công đồng Vaticanô II, Hội thánh đã tuyên bố: “<em>Không thể quy trách nhiệm một cách hàm hồ những tội ác đã phạm trong khi Đức Giêsu chịu khổ nạn cho hết mọi người Dothái thời đó, cũng như người Dothái thời nay… Từ Thánh kinh, không thể rút ra kết luận Thiên Chúa đã loại bỏ người Dothái hoặc đã chúc dữ cho họ</em>”.[21]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều chúng ta có thể khẳng định ở đây mà không sợ sai lầm là mọi kẻ tội lỗi là thủ phạm gây ra cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.[22] “<em>Chúng ta phải coi những kẻ sa đi ngã lại trong tội lỗi là những người đã phạm tội tầy trời nhất. Bởi lẽ, chính tội của ác chúng ta đã làm cho Đức Giêsu phải chịu khổ hình thập giá, thì chắc chắn rằng những ai chìm đắm trong gian tà cũng “tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sỉ nhục Người</em>” (Dt 6,6). Và phải nhìn nhận rằng, tội ác của chúng ta trong trường hợp này nặng hơn tội của người Dothái. Vì theo thánh Phaolô: “<em>Nếu họ đã được biết Vua vinh hiển, họ đã chẳng đóng đinh Người vào thập giá</em>” (1 Cr 2,8). Trái lại, chúng ta tuyên xưng rằng chúng ta biết Người, nên khi chúng ta chối bỏ Người bằng những hành động, có thể nói được rằng chúng ta đã tra tay giết Người.[23]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thánh Phanxicô Atxidi cũng nhắc nhở chúng ta: “<em>Không phải quỷ dữ đã đóng đinh Người trên cây thập giá. Chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người trên thập giá; và còn đang đóng đinh Người nữa khi bạn thích thú trong thói xấu và tội lỗi</em>”.[24]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Như vậy, thay vì quy trách, kết án người khác, chúng ta hãy tự vấn chính mình; thay vì lo bào chữa, biện hộ, bênh vực cho Đức Giêsu, thì hãy làm cho Người được sống thực sự trong đời sống chúng ta hôm nay. Có bao giờ chúng ta xác tín Đức Giêsu đã chết cho chính chúng ta hay không? Chúng ta có cảm nhận được “sức nặng cứu độ” của thập giá trên cuộc đời chúng ta hay không? Có khi nào việc làm của chúng ta lúc này tiếp tục đang đóng đinh Người hay không? Một lần nữa, chúng ta nhìn lại chính mình và can đảm đi vào hành trình thập giá với Đức Giêsu.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #800000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Quốc Văn, OP</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: small;">Albert Nolan, <em>Đức Kitô trước Kitô giáo</em>, Toà tổng giám mục Tp. Hồ Chí Minh, 1998.<br />
Bùi Văn Đọc, Võ Đức Minh,<em> Đức Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi</em>, Tủ sách Đại kết, 1997.<br />
Điển ngữ thần học Thánh kinh, bản dịch của Giáo hoàng học viện Piô X, Đà Lạt, tái bản lần II, 1971.<br />
Editor James H. Charlesworth, J<em>esus Jewishness</em>, Acrossriad Herder Book. The Crossroad Publishing Company, New York, 1996.<em><br />
Giáo lý Hội thánh Công giáo</em>, Toà tổng giám mục Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1997.<br />
Hồng Phúc, <em>Chúa Giêsu</em>, Hiện Diện xuất bản, Toulouse06/1993.<em><br />
Hợp tuyển thần học</em>, số 29-30/2001.<br />
J. Dheilly, <em>Từ điển Thánh kinh</em>, Desclée, 1964. Dịch giả: Sỹ Lâm.<br />
Nguyễn Văn Tuyên, <em>Ngôi Lời nhập thể và cứu đo</em>, Đại chủng viện thánh Giuse, 1994.<br />
Phan Tấn Thành, <em>Về nguồn</em>, tập 1, Rôma, 1997.<em><br />
Tuyển tập thần học</em> 03/1989, chủ đề: <em>Đức Giêsu Đấng cứu độ chúng ta</em>, UBĐKCG yêu nước, Tp. Hồ Chí Minh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1] Xc. Mt 26,17.20-22; Lc 22,7.4<br />
[2] Xc. Phan Tấn Thành, <em>Về nguồn</em>, tập I, tr. 140.<br />
[3] Giếtsêmani có nghĩa là chỗ ép dầu. Đây là một khu vườn trồng nhiều thứ cây, nhất là cây ô liu để ép dầu. Khu vườn có tường đá bao quanh, phía trong có những cối đá ép dầu, và có thể có một căn nhà nhỏ để gia chủ đến nghỉ mát. Đức Giêsu là chỗ quen biết của gia chủ, nên Ngài được tuỳ nghi sử dụng căn nhà này, và đã có lần Người nghỉ đêm tại đây khi không đủ thì giờ trở về Bêtania (Xc. Lm. Hồng Phúc,<em>Chúa Giêsu,</em> tr. 343).<br />
[4] Khoa học ngày nay chứng minh có những trường hợp vì quá lo sợ có thể xảy ra những cơn “xuất huyết” như thế này, tuy nhiên đây chỉ là trường hợp hy hữu xảy ra nơi những người lo sợ lên đến cực độ, những tử tù trước giờ hành quyết.<br />
[5] Bài giảng thứ sáu tuần thánh. Trích theo Lm. Hồng Phúc, <em>Chúa Giêsu</em>,  tr. 345.<br />
[6] Ông Caipha làm thượng tế từ năm 18 đến năm 36 tcn. Ông giữ chức vụ trong suốt thời gian ông Philatô làm Tổng trấn Giuđa (từ năm 20-26), Xc. Phan Tấn Thành, <em>Về nguồn</em>, tập I, tr. 147.<br />
[7] Theo tương tuyền, chứ Tin mừng không có nói đến.<br />
[8] Khana chỉ làm thượng tế từ năm 6 đến năm 15, vào thời Đức Giêsu, ông đạ bị tổng trấn Valerius truất chức rồi.<br />
[9] E. Lohse cho rằng, các tác giả Tin mừng viết trình thuật cuộc khổ nạn của Đức Giêsu chỉ mang tính hộ giáo chứ không có tính lịch sử. Xc. Phan Tấn Thành, <em>Về nguồn</em>, tập I, tr. 152.<br />
[10] Philatô được vua Tiberiô bổ nhiệm năm 26 giữ chức vụ được 10 năm rồi bị mất chức năm 36 sau vụ giết hại một số người Samari vô tội. Ông là “một con người cứng cỏi sắt đá  và kiêu hãnh đáng sợ” (Philon) . Xc. Lm Hồng Phúc, <em>Chúa Giêsu</em>, tr. 357.<br />
[11] Khổ hình đánh đòn thường đi trước bản án đóng đinh, nhưng cũng có thể là hình phạt riêng rẽ theo lối cảnh cáo. Theo luật Dothái, chỉ được đánh 40 roi trừ 1 (vì sợ đánh qúa con số luật định là 40). Luật Lamã thì khác, nạn nhân bị đánh vô hạn định, vì đánh đòn đi trước đóng đinh. Nạn nhân sắp chết,nên đánh bao nhiêu cũng được.<br />
[12] Xc Phan Tấn Thành, <em>Về nguồn</em>, tập I, tr. 157.<br />
[13] Hêrôđê là tay sai đắc lực cho đế quốc Lamã. Ông cai trị xứ Giuđêa và Pêrê đã 33 năm, và lại là người ra lệnh chém đầu ông Gioan Tẩy Giả sau vụ loạn luân với bà Hêrôđia. Tính tình ông sảo quyệt và Đức Giêsu gọi là “con cáo già”.<br />
[14] Người Dothái có thói quen khi bất chợt gặp thi hài một người bị ám sát mà không rõ thủ phạm là ai, thì các chức sắc trong vùng lân cận phải mời vị thượng tế đến chứng kiến lời thề của họ. Họ rửa tay trên thây ma và nói: “tay chúng tôi không đổ máu và mắt chúng tôi không thấy đổ máu”, có ý phủ định nghi vấn sát nhân hay đồng loã có thể đổ xuống trên họ.<br />
[15] Văn hào Plaute mô tả: “Người tử tội vác chiếc thanh ngang đi qua đường phố rồi bị đóng đinh vào thập giá. Xc. Lm. Hồng Phúc, <em>Chúa Giêsu</em>, tr. 369.<br />
[16] Cây thập giá Lamã gồm có thanh dọc dài khoảng 5 m và nặng cả 50 Kg. Cả cây thập hình nặng gần 100 Kg, làm sao tử tội có thể vác nổi, nhất là mới qua trận đòn thập tử nhất sinh.<br />
[17] <em>Golgotha</em> chỉ cần thêm một chữ “l”, tức <em>Gollgotha</em> có nghĩa là cái đầu. Có thể vì thế người ta gọi là đồi Sọ. Hoặc cũng có thể do hình thù quả đồi giống cái sọ người; có truyền thuyết cho rằng, nơi đây đã chôn sọ ông Ađam. Xc. Phan Tấn Thành,<em>Về nguồn</em>, tập I, tr. 161.<br />
[18] Theo giới y khoa, sau khi tiến hành thí nghiệm trên cơ thể những người mới chết trong vòng 24 tiếng, thì lưỡi đòng thấu đến tim, máu chảy từ tâm nhĩ phải và nước chảy ra từ màng chu tâm (Bs.Judica Milan 1938 và Bs. Pierre Bardet – <em>la passion de Jésus christ selon le Chirurgien</em>, tr.183).<br />
[19] Theo các nhà chú giải, có lẽ yếu tố này thánh sử Mátthêu thêm vào với dụng ý hộ giáo hơn là những diễn tiến lịch sử thực sự.<br />
[20] GLHTCG, số 597.<br />
[21] Xc. Na 4.<br />
[22] Xc. GLHTCG số 598.<br />
[23] Giáo lý Rôma<br />
[24] Thánh Phanxicô Atxidi, <em>Khuyến dụ</em>, 5,3.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguồn: </strong><span style="text-decoration: underline;"><a href="http://kinhthanhvn.org/"><span style="color: #000000; text-decoration: underline;">http://kinhthanhvn.org/</span></a></span><strong></strong></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2012/03/14/tim-hi%e1%bb%83u-s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt-v%e1%bb%81-cu%e1%bb%99c-kh%e1%bb%95-n%e1%ba%a1n-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%a9c-giesu-ti%e1%ba%bfp-theo-va-h%e1%ba%bft/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một năm sau thảm họa động đất sóng thần ở Nhật Bản – đọc lại những tranh luận về sự hiện hữu của một Thượng Đế toàn năng, toàn thiện</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2012/03/13/m%e1%bb%99t-nam-sau-th%e1%ba%a3m-h%e1%bb%8da-d%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-song-th%e1%ba%a7n-%e1%bb%9f-nh%e1%ba%adt-b%e1%ba%a3n-d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-nh%e1%bb%afng-tranh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2012/03/13/m%e1%bb%99t-nam-sau-th%e1%ba%a3m-h%e1%bb%8da-d%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-song-th%e1%ba%a7n-%e1%bb%9f-nh%e1%ba%adt-b%e1%ba%a3n-d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-nh%e1%bb%afng-tranh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 13 Mar 2012 01:50:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DangTrinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Đức tin & Đời sống]]></category>
		<category><![CDATA[con người]]></category>
		<category><![CDATA[hiện hữu]]></category>
		<category><![CDATA[thảm họa]]></category>
		<category><![CDATA[Thượng đế]]></category>
		<category><![CDATA[toàn năng]]></category>
		<category><![CDATA[toàn thiện]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=5081</guid>
		<description><![CDATA[Trước ngày kỷ niệm một năm xảy ra động đất và sóng thần tàn phá... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2012/03/13/m%e1%bb%99t-nam-sau-th%e1%ba%a3m-h%e1%bb%8da-d%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-song-th%e1%ba%a7n-%e1%bb%9f-nh%e1%ba%adt-b%e1%ba%a3n-d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-nh%e1%bb%afng-tranh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trước ngày kỷ niệm một năm xảy ra động đất và sóng thần tàn phá miền đông bắc Nhật ngày 11-3 năm ngoái, tôi trở lại thăm nơi này sau một vài tháng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lần tôi có mặt ở đó gần đây nhất, người ta bắt đầu dọn vệ sinh nhưng các thị xã vẫn còn đầy các đống đổ nát. Hiện nay người ta đã lau dọn gần hết và chất thành đống gọn gàng và che chắn bằng các tấm nhựa, như thể các bà lao công lớn tuổi từ các khu dân cư lân cận được đưa đến đây dọn dẹp hàng ngày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vì một lý do nào đó mà những vùng bằng phẳng, lác đác đây đó một hai tòa nhà đang chờ đập phá, trông kỳ quái hơn các nơi bị tàn phá vì ít ra thì các nơi bị tàn phá cũng cho thấy có người từng sống ở đó. Hiện nay nơi này trông có vẻ như chưa hề có người ở, nhất là lúc tôi ở đó, tuyết bao phủ các nền nhà còn sót lại của những tòa nhà bị tàn phá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi tá túc qua đêm tại một trong hai tòa nhà duy nhất ở trung tâm Otsuchi vẫn còn dùng được sau khi được sửa lại. Ở đây tựa hồ như con người đã bị tuyệt chủng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đối với một tín đồ thì cảnh tượng ấy khiến họ nghi ngờ. Thiên Chúa ở đâu khi rất nhiều thứ bị hủy diệt như thế? Chúa sẽ ở đâu khi mà rất có khả năng con người theo chúng ta biết sẽ bị tuyệt chủng?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một mục sư làm chương trình truyền hình về tôn giáo ở Mỹ từng nói các trận bão táp tàn phá gần đây ở nước này xảy ra là do Kitô hữu thiếu cầu nguyện. Dường như ông ta tin rằng Thiên Chúa cần số lượng lời cầu nguyện để ngăn ngừa thiên tai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vào thời điểm xảy ra thảm họa ở Nhật, có những con người hèn hạ khẳng định rằng thảm họa này dù xảy ra theo cách nào đi nữa, cơ bản là do thần linh tức giận muốn trừng phạt những người chưa đủ tốt. Nói cách khác, để xử lý những người chưa đủ tốt, vị thần này đã dìm chết con cái. Nhiều người tự mãn quả quyết biện hộ cho quái vật đó còn tự nhận mình là Kitô hữu. Trong trường hợp đó, phạm trù thần học dành cho những điều họ nói đó là báng bổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có người còn có suy nghĩ khá trí tuệ hơn và còn có thể biện giải được khi cho rằng cái chết của gần 20.000 người là bằng chứng không có Thiên Chúa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, những người hoài nghi này không thể hiện quan điểm rõ ràng. Cái chết của nhiều người như thế chỉ là một phần nhỏ trong tỷ lệ người chết. Chỉ mới cách đây vài tuần, các nhà địa chấn học cập nhật dự đoán 70% khả năng xảy ra một trận động đất có cường độ tương tự và chắc chắn số người chết và sự tàn phá lớn hơn trong khu vực Tokyo trong bốn năm nữa. Vào năm 1923, một trận động đất và sóng thần làm thiệt mạng 140.000 người trong khu vực Tokyo-Yokohama. Có nhiều người chết ở Nhật hay ở những nơi khác không phải là chyện gì mới lạ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng không cần nhấn mạnh đến các con số nếu có người muốn dùng số người chết để lập luận không có Thiên Chúa. Cái chết của 20.000 người không rõ danh tánh trên các bờ biển Thái Bình Dương trở nên không đáng khi so với một cái chết gần nhà hơn nhiều đó là cái chết của tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi sẽ chết và thế giới sẽ kết thúc đối với tôi. Cái chết của tôi có thể sẽ không xảy ra trong một trận thiên tai mà quốc tế đưa tin, nhưng không kém bất hạnh đối với tôi. Có chắc rằng việc tôi và mọi người khác sẽ chết chứng tỏ không có Thiên Chúa không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Qua những lời phàn nàn của họ, những người phủ nhận nghĩ rằng nếu có Thiên Chúa thì ngài nên ngăn chặn thảm họa. Họ không làm rõ điểm giới hạn trong trách nhiệm này nằm ở chỗ nào. Thiên Chúa có nên ngăn chặn thiên tai cướp đi sinh mạng của hàng trăm ngàn người? Hàng chục ngàn người? Một người? Hay trời sẽ đổ mưa vào ngày tôi dự định đi picnic là việc mà Chúa nên ngăn chặn?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong bất kỳ trường hợp nào thì vị thần mà họ thừa nhận đều là một người bảo vệ có thể và nên lèo lái thế giới để mang lại những kết quả theo mong muốn của chúng ta. Vì thảm họa là bằng chứng cho thấy sự lèo lái thế giới đó là không có, nên vị thần đó không tồn tại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi đồng ý với những người vô thần này và tôi cũng không tin vào vị thần mà họ phủ nhận. Tôi cho rằng hầu hết những người có đức tin đều làm như thế. Nhưng bằng chứng là một vị thần có ảnh hưởng trên thế giới không tồn tại có chứng minh được, chẳng hạn một Thiên Chúa giàu lòng yêu thương cũng không tồn tại?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“A ha! Nhưng không lẽ một Thiên Chúa giàu lòng yêu thương lại làm cho các thảm họa xảy ra?”. Không. Thảm họa xảy ra là do thiên nhiên hay thường hơn là do con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu Thiên Chúa yêu thương muốn chúng ta cũng là những người yêu thương, thì tự do là điều cần thiết. Tình yêu không thể ép buộc. Để yêu thương, chúng ta cũng phải biết đến ghen ghét, gây đau khổ và ngoảnh mặt làm ngơ. Nếu không có những cái đó, sẽ không thể có được tình yêu. Ảnh hưởng của Thiên Chúa sẽ ngăn ngừa đau khổ trong cuộc đời chúng ta, nhưng cũng ngăn ngừa việc chúng ta có thể là những người biết yêu thương hơn là những con rối. Tình yêu của Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dường như quan hệ tình thương của Thiên Chúa với môi trường cũng cho Thiên nhiên có “quyền tự do” riêng về quá trình địa lý, vật lý và tiến hóa. Không có sự điều khiển của Thiên Chúa trong việc ngăn trái đất tránh tình trạng như hiện nay. Cũng không có chuyện Thiên Chúa chi phối việc con người phòng chống thảm họa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thiên Chúa sẽ không sắp đặt lại thế giới cho phù hợp với chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra những gì thích hợp với chúng ta thật sự và vĩnh viễn, và rồi làm việc trong thế giới đó để làm cho điều đó xảy ra. Và điều thật sự phù hợp với chúng ta thường không phải là những gì liên quan động cơ chính trị hay kinh tế ngắn hạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vì chúng ra tin rằng tình yêu của Thiên Chúa sẽ tồn tại vượt trên sự chết và hủy diệt, chúng ta có thể nhìn những việc này với vẻ buồn bã, nhưng cũng đầy hy vọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em> </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #333300; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">Tác giả <em>Linh mục William Grimm sống ở Tokyo, chịu trách nhiệm xuất bản cho UCA News, và là cựu trưởng ban biên tập của tờ tuần báo Công giáo nhật Katorikku Shimbun.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguồn:</strong> ucanews</span></p>
<p style="text-align: center;"> ***</p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: medium;"><strong>LOẠT BÀI TRANH LUẬN VỀ SỰ HIỆN HỮU CỦA MỘT THƯỢNG ĐẾ TOÀN NĂNG, TOÀN THIỆN ĐÃ ĐĂNG TRÊN Talawas</strong></span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong> </strong><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan_nen.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5082" title="NhatBan_nen" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan_nen.jpg" alt="" width="400" height="288" /></a>Quentin Smith<strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Hai lối chứng minh không có Thượng đế</span></strong><br />
<em>Thích Bình Thường dịch</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Lời người dịch -</strong> Ngay từ nhỏ, chúng ta đã được giáo dục một chiều nên không có cơ hội học hỏi những điều nghịch với những gì mình được chỉ dạy. Chỉ biết tới quan điểm mà mọi người đang chấp nhận không phải là lối học đầy đủ, đáng khuyến khích. Muốn có một cái nhìn đúng đắn về một vấn đề thì phải nhìn vấn đề từ mọi phía, kể cả cái phía mà mình không thích. Chúng ta là những hành giả đang trên đường tìm chân lý. Thế giới đa dạng và luôn luôn năng động nên chân lý ngày hôm nay chưa chắc vẫn còn là chân lý ngày mai. Thái độ tự mãn, khinh khi hay coi thường những quan điểm khác sẽ làm khó khăn hơn cho việc tìm chân lý. Đức tin không có thử thách là đức tin chưa trưởng thành. Chỉ một mình đức tin thì chưa đủ thuyết phục con người thời đại. Cần phải có bằng chứng xác đáng và lý luận biện minh vững chắc mới có thể thuyết phục con người ngày hôm nay. Khoa học càng ngày càng có những khám phá mới về chân lý, chiếu rọi ánh sáng vén lên bức màn vô minh. Đức tin không dựa vào lý trí là cuồng tín, và bất nhân vì đi ngược lại bản chất con người là một sinh vật có trí tuệ. Cuồng tín nô lệ hoá tư tưởng con người và là cha đẻ của kỳ thị, chia rẽ, thành kiến, bất công, bạo động, chiến tranh&#8230; Đức tin có lý trí là điều mà ai cũng mong đợi. Trong chiều hướng đó, người dịch chỉ muốn chia sẻ cùng bạn đọc những góc cạnh mới lạ trong vườn tư tưởng nhân loại. Chấp nhận hay không là tùy mỗi người nhận định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Quentin Smith là giáo sư dạy triết học tại trường đại học University of Western Michigan. Ông đã viết 5 cuốn sách xuất bản qua hệ thống đại học Oxford University Press và Yale University Press, và trên 80 bài khảo cứu đăng trong những tạp chí chuyên nghiệp. Ông đã từng tranh luận nhiều lần trong các khuôn viên đại học về vấn đề có hay không có Thượng đế. Bài diễn văn sau đây được đọc trong dịp đại hội những nhà vô thần ở thành phố Minneapolis, tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ, ngày 6 tháng 4 năm 1996.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngày hôm nay tôi sẽ nói chuyện về hai lối chứng minh không có Thượng đế: Vũ trụ học chứng minh không có Thượng đế, và sự hiện hữu của vô vàn những sự dữ cũng chứng minh không có Thượng đế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Vũ trụ học: </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ giữa thập niên 1960, những nhà hữu thần có kiến thức khoa học rất bằng lòng về lý thuyết Big Bang trong Vũ trụ học. Họ tin rằng bằng chứng khoa học tốt nhất về sự hiện hữu của Thượng đế là việc vũ trụ đã bắt đầu hình thành từ một vụ nổ lớn khoảng 15 tỉ năm về trước. Vụ nổ lớn này được gọi là Big Bang. Họ cho rằng hiển nhiên vũ trụ không thể hiện hữu nếu không có một nguyên nhân đầu tiên. Họ lý luận rằng giả thuyết về một Thượng đế như nguyên nhân đầu tiên tạo dựng nên toàn thể vũ trụ là hợp lý nhất. Giả thuyết này hàm ẩn một giả thuyết khác rằng mọi vật hiện hữu đều phải có một nguyên nhân để hiện hữu. Đó cũng là giả thuyết hữu thần được viết trong cuốn Đức tin hữu lý (Reasonable Faith) [1] năm 1994 của William Lane Graig. Một đoạn lý thú trong sách mà tôi cần phải đọc ra, bởi vì ở cuối đoạn, Craig đã nhắc đến tên tôi như một trong những nhà vô thần cứng đầu từ chối sự hiển nhiên của nguyên tắc hữu thần. Tôi xin lập lại lý luận của Graig như sau [2] :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lý luận này đặt trên tam đoạn luận gồm 3 điểm đơn giản sau đây:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mọi sự có khởi đầu hiện hữu đều phải có một nguyên nhân</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vũ trụ hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Do đó, vũ trụ phải có một nguyên nhân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Craig viết tiếp:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Tiền đề 1 thì quá hiển nhiên, đến nỗi tôi có thể tin rằng không còn ai dám thành thật cho đó là một sai lầm. Do đó, tôi nghĩ là thiếu khôn ngoan nếu phải cố gắng lý luận biện minh cho tiền đề 1, vì những bằng chứng để chứng minh cho nguyên tắc này thì không thể hiển nhiên hơn chính bản thân nguyên tắc. Cũng giống như Aristotle đã nhận rằng không cần phải chứng minh điều hiển nhiên bằng những chứng cớ ít hiển nhiên hơn. Câu ngạn ngữ xưa rằng “không thể có cái gì đến từ hư không” vẫn còn hiển nhiên hơn bao giờ ở thời đại ngày nay. Khi tôi viết Lý luận có Thượng đế trong Vũ trụ học (The Kalam Cosmological Argument), tôi đã nhận xét rằng tam đoạn luận trên vẫn còn dành lối thoát cho người vô thần, vì họ có thể từ chối tiền đề 1 để cho rằng vũ trụ hiện hữu từ hư không chẳng cần phải có một nguyên nhân đầu tiên. Lúc đó tôi nghĩ chỉ có một ít người lý luận kiểu như vậy vì tôi tin họ là những người thích tranh luận ở học đường hơn là tìm hiểu chân lý về vũ trụ một cách thực tiễn. Tuy nhiên, tôi rất lấy làm ngạc nhiên vì những nhà vô thần này càng ngày càng có vẻ thích theo đường lối lý luận đó. Chẳng hạn như Quentin Smith bình luận rằng, các triết gia thường hay bị ảnh hưởng quá đáng bởi nỗi lo sợ của Heidegger về điều “hư không”, và ông ta đã kết luận rằng “điều tin tưởng hợp lý nhất là chúng ta đến từ hư không, bởi hư không và cho hư không.” Đó là lời kết thúc đẹp có lẽ giống như lối nói chuyện ở Gettysburg về chủ nghĩa vô thần [3] .”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi xin bắt đầu phản bác lập luận này dựa vào Vũ trụ học, vì đó là lập luận mà những nhà hữu thần có kiến thức khoa học hiện đang sử dụng để chứng minh có Thượng đế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hãy bắt đầu bằng nhận xét về tiền đề 1 trong tam đoạn luận trên. Tiền đề là mọi sự có một khởi đầu hiện hữu đều phải có một nguyên nhân. Có lý do gì để phải chấp nhận nguyên tắc nhân quả này như một chân lý không? Thực ra nguyên tắc này tự nó không có gì là hiển nhiên. Một điều hiển nhiên chỉ khi nào mọi người hiểu và tự động tin theo. Nhưng có rất nhiều người, kể cả những nhà hữu thần lừng danh như Richard Swinburne, hiểu biết rất rõ ràng về nguyên tắc này nhưng vẫn cho là sai lầm. Rất nhiều triết gia, khoa học gia, và cả số đông sinh viên bậc cử nhân và sau đại học trong lớp tôi dạy đều nghĩ rằng tiền đề này là sai lầm. Tiền đề này tự nó không hiển nhiên và cũng không xuất phát từ một mệnh đề hiển nhiên nào khác. Do đó, không có lý gì cho đó là một chân lý. Vậy tiền đề này hoặc sai lầm, hoặc chỉ có giá trị của một nhận xét có thể đúng và cũng có thể sai. Ít nhất thì cũng đã rõ ràng là chúng ta không hề biết tiền đề trên có đúng hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bây giờ thí dụ những nhà hữu thần sửa đổi tiền đề trên cho nhẹ nhàng hơn đôi chút. Thí dụ họ bảo rằng “mọi sự có khởi đầu hiện hữu thì có một nguyên nhân”. Như vậy không còn bảo mọi sự có khởi đầu hiện hữu đều phải có một nguyên nhân nữa. Nó cho phép có những điều xảy ra không cần có một nguyên nhân đầu tiên nào. Do đó, chúng ta không cần phải xem tiền đề trên có giá trị chân lý hiển nhiên. Đúng hơn, chúng ta chỉ xem tiền đề trên như là một phát biểu thông thường dựa trên sự quan sát của những nhà hữu thần. Nhưng lại có vấn đề trong lối suy luận này. Tuyệt đối không có chứng cớ để có thể xem tiền đề trên là đúng. Những điều mà chúng ta quan sát chỉ là những thay đổi của sự vật. Mọi vật chuyển đổi từ thể này qua thể khác. Vật di chuyển, dừng lại, lớn hơn, bé đi, nhập lại với vật khác, chia đôi, v.v&#8230; Nhưng chúng ta không có được sự quan sát của những vật đang trở thành hiện hữu. Chẳng hạn như chúng ta không quan sát được con người đang trở thành hiện hữu. Ở đây chỉ là thay đổi nơi những sự vật. Một con tinh trùng hợp với cái trứng làm thay đổi trạng thái. Sự phối hợp chia cắt, làm lớn ra và phát triển thành một con người trưởng thành. Do đó, tôi có thể kết luận rằng chúng ta không có bằng chứng hiển nhiên cho tiền đề của Craig “mọi sự có khởi đầu để hiện hữu thì đều phải có một nguyên nhân” là đúng. Những nguyên nhân mà chúng ta biết được chỉ là những thay đổi trạng thái nơi vật chất đã hiện hữu trước. Trong tiền đề về nhân quả của Graig và những nhà hữu thần, chữ “nguyên nhân” đây có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Nó có nghĩa là sáng tạo ra phần vật chất từ hư không. Thậm chí cho rằng có thể có loại nguyên nhân lạ lùng này cũng đã hoàn toàn chỉ mang tính suy đoán đơn thuần, chưa nói đến việc tuyên bố lập luận ấy được hỗ trợ bằng những quan sát của chúng ta trong đời sống hằng ngày.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng cái điểm quan trọng hơn là ở chỗ này: Không những không có bằng chứng hiển nhiên cho một quan niệm hữu thần mà lại có bằng chứng đối nghịch với quan niệm hữu thần. Lập luận nguồn gốc vũ trụ phải có một nguyên nhân khởi đầu đi nghịch với lý thuyết khoa học ngày nay. Hàm số sóng (wave function) là một lý thuyết khoa học về vũ trụ. Hàm số sóng này đã được phát minh trong khoảng chừng một thập niên qua bởi những khoa học gia Stephen Hawking, Andre Vilenkin, Alex Linde, và nhiều khoa học gia khác. Lý thuyết của họ là có một định luật khoa học thiên nhiên về vũ trụ được gọi là hàm số sóng. Hàm số sóng này khẳng định rằng có một xác suất cao là vũ trụ và những đặc tính của nó tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên nào. Lý thuyết của Hawking dựa trên những con số thiết lập cho mỗi vũ trụ khác nhau có thể có, rồi lần lượt tự loại dần để sau cùng còn lại một vũ trụ với những đặc tính mà vũ trụ chúng ta đang có. Cái vũ trụ còn lại này có một xác suất rất cao, gần như là 100%, đã tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lý thuyết của Hawking đã được khẳng định bằng những bằng chứng khi quan sát. Lý thuyết này định được vũ trụ chúng ta có vật chất phân phối đồng đều rất đại qui mô, qui mô ở mức độ của những dãy ngân hà khổng lồ trong vũ trụ. Nó định được gia tốc bành trướng của vũ trụ chúng ta. Vũ trụ chúng ta vẫn còn đang bành trướng, và gia tốc bành trướng hiện đang nằm gần ngay khoảng giữa của gia tốc khi vũ trụ luôn mãi bành trướng và gia tốc khi vũ trụ bành trướng rồi sụp đổ. Nó định được diện tích bành trướng khởi thủy rất nhanh gần lúc vũ trụ mới bắt đầu thành hình. Giai đoạn ban đầu này được gọi là sự lạm phát. Lý thuyết của Hawking định được một cách chính xác những điều bất thường mà vệ tinh COBE đã khám phá liên quan đến những tia phóng xạ trong vũ trụ. Như vậy, một lý thuyết khoa học đã được khẳng định bằng những bằng chứng khi quan sát cho ta biết được rằng vũ trụ đã tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên nào. Vậy nếu bạn muốn là một người có trí tuệ và chấp nhận những kết quả có lý lẽ khi tìm hiểu về vũ trụ thì chúng ta phải chấp nhận một sự kiện hiển nhiên rằng không có Thượng đế nào tạo dựng vũ trụ cả. Vũ trụ đã tự hiện hữu vì định luật về hàm số sóng này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngày nay, lý thuyết của Hawking đã giải tỏa mọi thắc mắc làm sao mà vũ trụ có thể hiện hữu không cần một nguyên nhân. Ông giả thuyết có một không gian vô thời gian (timeless space), một khối hình cầu bốn chiều lúc vũ trụ mới bắt đầu thành hình. Không gian này còn nhỏ hơn hạt nhân của một nguyên tử, có đường bán kính nhỏ hơn 10-33 centimeters. Bởi vì vô thời gian nên chẳng cần tác động của một Thượng đế vô thời gian của các nhà hữu thần. Khối hình cầu vô thời gian này có liên hệ tới vũ trụ đang bành trướng của chúng ta. Vũ trụ chúng ta khởi đầu nhỏ hơn một nguyên tử và nổ ra như một Big Bang, và ngày nay chúng ta đang ở trong một vũ trụ vẫn còn đang bành trướng. Có thể Thượng đế đã tạo vụ nổ này không? Thưa không, vì hàm số sóng về vũ trụ xác quyết với một xác suất 95% rằng vũ trụ đã tự hiện hữu không cần một nguyên nhân đầu tiên. Nếu có Thượng đế tạo dựng vũ trụ thì Thượng đế đã đi nghịch lại với định luật khoa học này bằng hai cách. Thứ nhất, định luật khoa học này định rằng, vũ trụ tự hiện hữu vì những định luật toán học tự nhiên chứ không phải vì những quyền lực siêu nhiên. Thứ hai, định luật khoa học này chỉ xác định một xác suất 95% là vũ trụ hiện hữu. Nhưng nếu Thượng đế tạo dựng vũ trụ thì phải có một xác suất 100%, bởi vì Thượng đế thì toàn năng. Nếu Thượng đế muốn vũ trụ hiện hữu thì 100% vũ trụ phải hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để kết luận, khoa Vũ Trụ Học ngày nay không những đã không hỗ trợ lập luận của những nhà hữu thần mà còn đi nghịch lại với quan niệm hữu thần. Như vậy theo tôi nghĩ, đây là lý lẽ khoa học mạnh nhất để phản bác chủ nghĩa hữu thần. Tôi nghĩ nó còn mạnh hơn cả lý thuyết tiến hóa của Darwin.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Vô vàn sự dữ: </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi nghĩ còn có một lối lý luận thứ hai, riêng biệt, để phản bác chủ nghĩa hữu thần dựa trên những lý lẽ thông thường mà chúng ta sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. John Mackie, một triết gia nổi tiếng người Anh, đã nói rằng nếu trong thế giới này có phép lạ thì phép lạ đó chính là việc có nhiều người ngày nay vẫn còn tin có Thượng đế. Một trong những lý do mà Mackie xác quyết như vậy là vì ông nhìn thấy vô vàn sự dữ trong thế giới mà một Thượng đế toàn năng toàn thiện không thể tạo dựng như vậy. Thí dụ hãy nhìn vào dịch cúm Spanish (Spanish influenza). Trong thế chiến 1914-1918 có 10 triệu người chết, nhưng chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 9 tới tháng 11 năm 1919, có tới 20 triệu người đã chết do dịch cúm Spanish, tương đương với số người chết vì bệnh dịch hạch ở thế kỷ 14. Rồi lại thình lình vi khuẩn này biến mất và không ai còn thấy chúng xuất hiện. Như vậy nếu có Thượng đế hiện hữu thì tại sao thiên tai này lại xảy ra? Hay tại Thượng đế không đủ toàn năng để có thể giết chết hết những con vi khuẩn, hay không đủ toàn năng để làm chúng không phát sinh thêm? Vậy Thượng đế không toàn năng và không phải là Thượng đế theo nghĩa trong truyền thống Ki Tô và Do Thái. Đó chỉ là một sinh vật thông minh ngoài không gian. Thượng đế chỉ có khả năng hơn chúng ta ở mức độ nào, cũng như chúng ta có khả năng hơn những con kiến ở mức độ nào đó. Nhưng đó không phải là Thượng đế nữa. Đó chỉ là một sinh vật hữu hạn. Bạn không cần phải tôn thờ sinh vật này hơn tôn thờ ET [4] .</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thí dụ như Thượng đế toàn năng và ngài có thể giết chết hết những con vi khuẩn tạo dịch cúm Spanish trước khi chúng giết 20 triệu người. Tại sao Thượng đế không làm vậy? Có phải bởi vì Thượng đế không toàn thiện? Bởi vì Thượng đế không quan tâm đủ đến loài người? Điều đó giống như không phải là Thượng đế mà là sự dữ đang cai quản vũ trụ. Đó chỉ là một thí dụ trong muôn vàn thí dụ về sự dữ trong vũ trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Làm sao những nhà hữu thần có thể trả lời những lý luận kiểu này? Họ trả lời rằng có lý do cho sự dữ xuất hiện, nhưng đó là một bí ẩn. Vậy thì, hãy để tôi nói với bạn như thế này: Hiện tại tôi cao 100 bộ mặc dù tôi chỉ trông như cao có 6 bộ. Bạn bảo tôi chứng minh điều này thì tôi sẽ trả lời đơn giản rằng: đó là một bí ẩn. Bạn hãy chấp nhận lời tôi nói dựa vào đức tin. Và đó là lối lý luận của những nhà hữu thần đang dùng khi bàn về sự dữ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thật vậy, có sự nghịch lý rõ ràng trong quan niệm hữu thần khi dùng những lý lẽ thông thường mà chúng ta sử dụng trong đời sống hằng ngày. Nếu chúng ta có bằng chứng về một sự vật hiện hữu thì chúng ta bảo rằng rất có thể (probable) [5] vật đó hiện hữu. Nếu chúng ta thấy đám mây đen đang bay đến, chúng ta bảo rất có thể trời sẽ mưa. Còn nếu chúng ta không có bằng chứng về một sự vật, chúng ta chấp nhận rằng có lẽ (possible) [6] sự hiện hữu của sự vật ấy chỉ là có thể, mặc dù rất có thể (probable) là nó không hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu Thượng đế hiện hữu như một sinh vật toàn năng toàn thiện thì Thượng đế phải làm thế nào để thế giới hoàn toàn tốt lành. Chỉ có mỗi một cách Thượng đế thực hiện điều này là tạo mọi sự dữ mà chúng ta thấy rõ ràng trong thế giới như là phương tiện để làm thế giới tốt lành hơn. Chẳng hạn như cơn đau của việc chích ngừa tự nó rõ ràng là xấu, nhưng đó là phương tiện cho ta điều tốt lành hơn. Như vậy, nếu có Thượng đế thì chúng ta phải có bằng chứng rằng mọi sự dữ mà chúng ta thấy chỉ là phương tiện đưa đến những điều tốt lành hơn. Nhưng ngay cả những nhà hữu thần cũng phải công nhận không có chứng cớ về những điều tốt lành hơn này. Đó là lý do tại sao họ phải nói về những đường lối mầu nhiệm mà Thượng đế làm. Chẳng hạn như trong việc 20 triệu người chết vì dịch cúm Spanish, chẳng có tí bằng chứng nào để thấy thế giới được tốt lành hơn. Do đó, kết luận là rất có thể (probable) không có Thượng đế hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bây giờ có thể những nhà hữu thần sẽ trả lời rằng, có lẽ thế giới được tốt lành hơn nhưng chúng ta không biết. Nhưng bạn hãy để ý kỹ câu họ nói: “có lẽ có điều tốt lành hơn mà chúng ta không biết”. Hiển nhiên là có thể có sự tốt hơn mà chúng ta không biết. Mọi sự đều có thể. Cũng có thể có một con voi đạp đổ nhà tôi. Cũng có thể Elvis Presley vẫn còn đang sống và đang nhảy tuýt ở phía bên kia mặt trăng. Nhưng sự kiện mọi sự đều có thể (possible) không có nghĩa là rất có thể (probable) xảy ra. Như vậy sự kiện có lẽ (possible) có Thượng đế không chứng minh được chút gì điều rất có thể (probable) có một Thượng đế đã tạo điều tốt lành hơn qua những sự dữ mà không ai biết. Vậy nếu có ai bảo tôi hãy chấp nhận bằng đức tin rằng đang có những điều tốt lành hơn để giải thích mọi sự dữ trên thế giới, nên do đó có một Thượng đế hiện hữu, thì tôi trả lời rằng tôi sẽ chấp nhận điều đó bằng đức tin nếu bạn cũng chấp nhận bằng đức tin rằng Elvis Presley hiện đang lắc hông trên mặt trăng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Kết luận </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để kết luận tôi xin nói rằng, thứ nhất khoa học hiện nay không chấp nhận có Thượng đế hiện hữu. Và thứ hai, lý luận thông thường mà chúng ta sử dụng hằng ngày khi áp dụng vào mọi sự dữ chúng ta trông thấy cũng tự nó không chấp nhận có Thượng đế. Do đó nên tôi nghĩ quan niệm hữu thần thì rất vô lý, còn quan niệm vô thần thì hữu lý hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]William Lane Graig, Reasonable Faith (Wheaton, IL: Crossway, 1994).<br />
[2]Ibid., trang 92.<br />
[3]Ibid.<br />
[4]ET là tên một cuốn phim khoa học giả tưởng, đề tài nói về người ở ngoài không gian lạc vào địa cầu và có những quyền năng đặc biệt.<br />
[5]“Có lẽ” hay “có thể” (possible) được hiểu theo mức độ xác suất có thể xảy ra thấp nhất. “Rất có thể” (probable) ở mức độ xác suất cao nhất, nghĩa là có nhiều cơ hội xảy ra nhất.<br />
[6]Ibid.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Đỗ Xuân Phương</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Bàn về Thượng đế cùng Quentin Smith</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đọc bài viết “Hai lối chứng minh không có Thượng đế” của Quentin Smith do Thích Bình Thường dịch, tôi phải mỉm cười vì sự hăng hái bảo vệ quan điểm đã làm cho tác giả giống với những người mà W.L. Craig gọi là “thích tranh luận ở học đường”. Mặc dù không thể không thừa nhận kiến thức uyên bác cũng như lập luận sắc bén của tác giả, tôi nghĩ ông vẫn có những lỗ hổng nhất định mà tôi xin thử trình bày dưới đây:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Thượng đế toàn năng của vũ trụ học </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong lý thuyết của mình, Stephen Hawking đưa ra vấn đề khởi thuỷ của vũ trụ, rằng có xác suất để vũ trụ mang những “hình dáng” khác nhau. Vũ trụ như hiện tại của chúng ta có xác suất xuất hiện khá cao nhưng không phải 100% và Quentin Smith căn cứ vào đó để nói rằng Thượng đế không tồn tại bởi vì Thượng đế là toàn năng. Thế nhưng, chính tác giả của lý thuyết vũ trụ học lại viết rằng: “Chúa là một tay cờ bạc có hạng” [1] hàm ý rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới một cách ngẫu nhiên và vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong những tạo vật có thể có của Ngài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Rõ ràng là Q. Smith đã gán Thượng đế cho sự hiện hữu của vũ trụ mà chúng ta đang thấy, để rồi tuyên bố cho sức mạnh của vô thần luận. Song chỉ cần cắt đứt sự ràng buộc tuyệt đối của đấng Sáng thế với sản phẩm hiện nay của Ngài, thì hữu thần luận có thể giành lấy toàn bộ sự bênh vực của khoa học. Rằng Thượng đế là toàn năng bởi vì Ngài cho phép vũ trụ có một bộ mặt lịch sử như chúng ta đang thấy, và đến khi lịch sử đó kết thúc thì tuỳ theo cú gieo súc sắc của Ngài mà vũ trụ bắt đầu một lịch sử khác. Lý thuyết vũ trụ học do Hawking đề xướng đã loại trừ đi cái nguyên nhân nằm ngoài vũ trụ, chứ không loại trừ nguyên nhân hay xác suất của chính vũ trụ. Nói cách khác, tính đa lịch sử của vũ trụ mới là bàn tay trọn vẹn của Thượng đế và Ngài hiện hữu trong chính sản phẩm của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Vô vàn sự dữ cũng nằm trong ý định của Thượng đế </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi không có ý đưa thuyết nghiệp báo ra để phản đối bằng chứng thứ hai của ông Smith, song chỉ cần tiếp nối quan điểm về Thượng đế vô tư, lạnh lùng như một sòng roulet, người ta cũng chứng minh được rằng Thượng đế tồn tại để trừng phạt loài người và ban thưởng món ăn ngon lành cho những loài vi sinh vật sống nhờ việc phân huỷ xác chết. Những sự dữ, bằng bất kỳ hình thức nào, đều không phải là “dữ”. Chúng dữ với người này hay cộng đồng này, giống loài này&#8230; song lại tốt lành với người khác hoặc cộng đồng khác, giống loài khác&#8230; Mặc dù quan điểm của Q. Smith rất đúng đắn khi dùng để bác bỏ niềm tin mê muội vào các vị thần bay lượn trong không gian chuyên ban phúc cho con người, song nó không thể dùng để loại trừ Thượng đế với tính cách là một hiện hữu bao trùm vũ trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cũng giáo sư Hawking, mở đầu cho chương 3 của cuốn sách Vũ trụ trong một hạt dẻ, đã trích dẫn câu này của văn hào Shakespeare:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Ta có thể ẩn tàng trong hạt dẻ<br />
vẫn coi mình là vua của vũ trụ vô biên” [2]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Shakespeare không thể đọc lý thuyết vũ trụ học cuối thế kỷ 20 để viết ra câu nói bất hủ ấy. Chỉ biết rằng qua câu nói của Hamlet, người đọc thấy đức tin ấy tạo ra một sự khác biệt sâu sắc với việc không có đức tin hay đức tin vô thần. Cho đến ngày nay thì chúng ta biết rằng đức tin ấy là có cơ sở khoa học và nó gắn liền với nhận thức về mối quan hệ giữa con người với vũ trụ, giữa cá nhân với Thượng đế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Kết luận </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hai bằng chứng mà Q. Smith đưa ra, tôi cho rằng không đủ để đi đến kết luận vô thần có lý hay hữu thần có lý. Một cách thận trọng thì chúng ta nên nói rằng: Thượng đế hiện hữu hay không là do quan niệm và đức tin của mỗi người. Nếu một người nào đó kiên quyết loại bỏ danh từ Thượng đế, thì rốt cuộc anh ta hay chị ta vẫn phải tìm một danh từ khác đại diện cho cái thế lực đã buộc vũ trụ phải như thế này chứ không phải thế khác. “Trùng trùng duyên khởi” là một cách diễn đạt, “Vũ trụ và các định luật khoa học&#8230;” là một cách diễn đạt khác, “Trời sinh ra thế” cũng là một cách nói khác nữa v.v. Nghiên cứu triết học, vì thế, phải là một nỗ lực vượt ra khỏi ngôn từ khái niệm để có được chân lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">[1]Hawking, Stephen W., The Universe in a nutshell, bản dịch của Nguyễn Văn Cừ, Phạm Lê Mạnh Đức, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội 2003.<br />
[2]Shakespeare, William, Hamlet, hồi 2 cảnh 2.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan_bai1.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5083" title="NhatBan_bai1" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan_bai1.jpg" alt="" width="400" height="288" /></a><em>Thích Bình Thường</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Trả lời bài “Bàn về Thượng đế cùng Quentin Smith”</span><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">của ông Đỗ Xuân Phương</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi rất thích thú khi đọc bài “Bàn về Thượng đế cùng Quentin Smith” của ông Đỗ Xuân Phương. Tôi phải cám ơn tác giả vì tác giả đã cho tôi được cơ hội chia sẻ một vài suy tư cá nhân theo từng phần mà tác giả đã viết để cùng tác giả tiếp tục song hành trên đường tìm chân lý, vì dù sao thì quan điểm của tác giả cũng là quan điểm chung của đa số quần chúng xưa nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Thượng đế toàn năng của vũ trụ học? </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi xin xác định hiện nay chưa có bộ môn khoa học nào có thể chứng minh có hay không có Thượng đế. Khoa học chỉ có thể chứng minh được rằng một vật có thể tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên. Q. Smith khi dùng khoa học để lý luận về Thượng đế cũng chỉ đi đến kết luận rằng rất có thể không có Thượng đế (improbability of god) và vô thần luận thì có lý hơn, nếu sánh với hữu thần luận. Đó là một kết luận có tính xác suất phần trăm, so sánh, tương đối, dựa trên kết quả của toán học xác suất và vũ trụ học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bài của Q. Smith được viết vào năm 1996. Phần luận về vũ trụ học nhằm để phản bác lập luận sai lầm của W.L. Graig. Lập luận này được dựa hoàn toàn trên một tam đoạn luận mà tiền đề không thể được xem là một chân lý hiển nhiên, do đó đã lôi kéo theo một kết luận sai lầm. Quan niệm cho rằng vật chất không thể được sáng tạo hay hủy diệt xưa nay vẫn được xem là một chân lý mà các nhà hữu thần thường hay dùng để chứng minh có Thượng đế hiện hữu ngày nay không còn được xem là chân lý nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực vậy, phương trình của Einstein E=mc2 cho biết vật chất có thể hoán chuyển sang năng lượng hoặc ngược lại. Định luật thứ nhất của Nhiệt học (Thermodynamics) định rằng tổng số vật chất và năng lượng trong một hệ thống đóng kín không thay đổi. Nếu toàn thể vũ trụ này được xem là một hệ thống đóng kín có tổng số năng lượng và vật chất là “zero”, vì năng lượng và vật chất có thể chuyển hóa qua nhau theo phương trình của Einstein, thì chẳng phải cần một năng lượng hay một quyền lực siêu nhiên nào để có vũ trụ. Một vật có thể tự hiện hữu không đi nghịch với bất cứ một định luật khoa học nào. Như vậy, quan niệm trên được xem là chân lý hay không tùy thuộc nếu áp dụng vào một hệ thống có khép kín hay không. Không thể đặt quan niệm trên như một tiền đề tổng quát có giá trị chân lý tuyệt đối ở mọi trường hợp để suy luận như trong tam đoạn luận của Graig.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tác giả cho rằng “lý thuyết vũ trụ học do Hawking đề xướng đã loại trừ đi cái nguyên nhân nằm ngoài vũ trụ”. Thực ra chẳng có nguyên nhân nào nằm ngoài vũ trụ như tác giả đòi hỏi. Độc giả cũng không biết được một chứng minh nào của tác giả cho cái nguyên nhân lạ lùng đó. Điều gì xảy ra trước khi có Big Bang? Thời gian sớm nhất của vũ trụ mà con người có thể xác định được là thời gian Planck, bằng 10-43 giây, tính từ khi có Big Bang. Trước đó nữa thì vô thời gian và vô không gian. Những gì vô thời gian và vô không gian thì vô nghĩa lý (illogical) mà toán học gọi là “singularity”. Tôi tạm hiểu là hư vô, chẳng có gì cả. Nếu chẳng có gì thì đâu cần ai sáng tạo, vì có gì đâu để sáng tạo? Vậy có ích lợi gì để bàn về một điều vô nghĩa lý? Lý luận của tác giả là cố gắng nêu ra một điều nghi ngờ mà chính tác giả cũng không chắc là có hay không để mong đánh đổ lập luận người khác, trong khi tác giả không thể trình bầy cho độc giả biết những bằng chứng hỗ trợ điều mà tác giả muốn bênh vực. Nguyên nhân nằm ngoài vũ trụ chỉ được xem là cần thiết khi vũ trụ không thể tự hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Vô vàn sự dữ cũng nằm trong ý định của Thượng đế? </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu chấp nhận “vô vàn sự dữ cũng nằm trong ý định của Thượng đế” như tác giả đã viết thì cũng phải chấp nhận quan niệm cho rằng con người không có ý chí tự do, vì “một sợi tóc trên đầu rụng xuống không ngoài thánh ý Chúa”. Hậu quả tai hại của quan niệm này sẽ đưa đến sự hủy bỏ toàn diện mọi giá trị luân lý và xã hội, vì con người không còn trách nhiệm gì về mọi hành động của họ. Cứ đổ lỗi lên đầu một Thượng đế trong tưởng tượng thì sẽ vô tội vạ. Những cố gắng của con người để cải thiện đời sống sẽ vô ích nếu có một Thượng đế đang định đoạt tất cả mọi sự, kể cả mọi sự dữ, và con người thì không có ý chí tự do để có thể làm gì khác hơn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thiên tai tsunami ngày 26 tháng 12 năm 2004 đã giết gần 160.000 nhân mạng không thể là do ý định của một Thượng đế toàn thiện. Nếu các quốc gia vùng Ấn Độ Dương có hệ thống quan sát, báo động kịp thời, thì chắc chắn con số tử vong sẽ không quá cao như vậy. Nếu cho rằng đó là ý định của Thượng đế để “trừng phạt loài người và ban thưởng món ăn ngon lành cho những loài vi sinh vật sống nhờ việc phân hủy xác chết” như tác giả đã viết, thì con người không nên xây dựng một hệ thống báo động, vì con người, một loài vật thụ tạo hữu hạn, làm sao có thể cưỡng lại ý định của một Thượng đế toàn năng, vô cùng? Theo thuyết vũ trụ được tạo dựng (Creationism) thì con người là trung tâm điểm của vũ trụ, và tất cả mọi tạo vật khác được Thượng đế dựng nên chỉ để phục vụ con người. Vậy tại sao Thượng đế lại giết một lúc gần 160.000 nhân mạng để nuôi loài vi sinh vật? Không lẽ mạng con người mang hình ảnh của Thượng đế không đáng giá bằng mạng một vi sinh vật? Việc chống lại ý định của Thượng đế là một trọng tội. Phải chăng những cố gắng của thế giới đang cứu vớt và làm dịu nỗi đau khổ của hàng triệu nạn nhân tsunami không phải là đang chống lại ý định của Thượng đế sao? Nhìn số nạn nhân con nít chưa đủ tuổi để ý thức được điều tội đang trở thành “món ăn ngon lành cho những loài vi sinh vật sống nhờ việc phân hủy xác chết” để ý định Thượng đế được thành tựu thì không ai là không phẩn nộ trước thái độ vô tâm của đồng loại. Chỉ cần Thượng đế có trái tim của một bà mẹ thì thiên tai này chắc chắn đã không xảy ra. Con người thường hay thích đơn giản hóa vấn đề bằng cách sáng tạo ra Thượng đế để giải thích những gì con người chưa biết tới mà không thấy hậu quả những mâu thuẫn trong luận lý. Danh từ “sóng thần” trong tiếng Việt cũng mang dấu vết còn sót lại của duy thần chủ nghĩa ngày xưa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra khi xác định giá trị của một vật hay một hành động là chúng ta đang áp đặt những ham muốn (desires) chủ quan của chúng ta trên vật hay hành động đó. Không có hành động hay vật nào tự nó tốt hay xấu, bởi vì không có cách nào, dù là cách tưởng tượng, để định khác biệt về giá trị, nên bắt buộc chúng ta phải kết luận rằng sự khác biệt về giá trị là do thưởng thức (taste) chứ không phải chân lý khách quan. “Vấn đề định giá trị điều gì tốt hay xấu phải độc lập với những hậu quả của những điều đó. Những người bảo vệ tôn giáo cho rằng vấn đề đó nằm ngoài phạm vi của khoa học. Tôi nghĩ họ đúng trong nhận xét đó, nhưng tôi muốn đưa ra một kết luận xa hơn mà họ không có, rằng vấn đề định giá trị nằm ngoài phạm vi của tri thức. Có nghĩa là khi chúng ta định giá trị, chúng ta diễn tả ra bên ngoài những cảm xúc của chính chúng ta chứ không phải diễn tả sự kiện, mà sự kiện thì có thể vẫn còn đúng mặc dù cảm xúc đã thay đổi.” [1] Như vậy định một điều tốt hay xấu để thưởng phạt thì hoàn toàn chủ quan, mang nặng cảm tính, không phải là công việc của khoa học. Hoả ngục, nơi để phạt những người tội lỗi, trở nên hoàn toàn vô lý. Nếu con người không còn ý chí tự do để hành động thì ý niệm hỏa ngục (hay thiên đàng) lại càng vô lý hơn. Ý niệm hỏa ngục chỉ làm con người sợ hãi, mà sợ hãi là nền móng của đức tin tôn giáo. “Tôn giáo, tôi nghĩ, được đặt nền móng chính yếu và nguyên thủy trên sự sợ hãi. Đó một phần chính là nỗi sợ hãi những gì bạn không biết và một phần, như tôi đã nói, là niềm ước muốn cảm thấy có một ông anh đứng bên bạn cho mọi rắc rối và tranh chấp. Sự sợ hãi là căn bản của toàn vấn đề &#8211; sợ những gì bí ẩn, sợ thua, sợ chết. Sợ hãi là cha đẻ của tàn ác, và do đó không có gì để ngạc nhiên nếu thấy sự tàn ác và tôn giáo đã cùng nắm tay bên nhau”. [2]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi không thể đồng ý với tác giả khi tác giả viết rằng: “Cho đến ngày nay thì chúng ta biết rằng đức tin ấy là có cơ sở khoa học…” Tôi không thấy tác giả cho độc giả biết dựa vào đâu để tác giả xác quyết điều đó. Nếu đã có cơ sở khoa học thì đâu cần phải gọi là đức tin, mà phải đổi thành chân lý khoa học mới đúng. Cho đến nay chưa có khoa học nào, kể cả luận lý học, có thể chứng minh bằng những phương pháp khoa học có một Thượng đế hiện hữu, nghĩa là chẳng có đức tin nào có cơ sở khoa học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Kết luận </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả khi tác giả nhận định rằng Thượng đế hiện hữu hay không là do quan niệm và đức tin của mỗi người. Nhưng điều này lại mâu thuẫn với điều mà tác giả vừa viết ở phần trên rằng “đức tin ấy (tin có một Thượng đế đã tạo dựng vũ trụ) là có cơ sở khoa học” đã được bàn rồi. Những gì đã có cơ sở khoa học thì chẳng cần đến đức tin nên đâu cần phải tùy thuộc hay không. Thực ra Q. Smith muốn đưa ra một lý luận đối nghịch với lý luận cổ điển có một Thượng đế tạo dựng vũ trụ có nguồn gốc từ Kinh thánh. Cũng nên biết rằng, hiện nay bên Mỹ lý thuyết tiến hóa (Evolutionism) của Charles Darwin đang được giảng dạy ở các trường trung học, còn lý thuyết vũ trụ được tạo dựng (Creationism) đang bị bứng dần khỏi học đường vì không có cơ sở khoa học và vì nguyên tắc tôn giáo tách rời khỏi chính quyền, mặc dù cả hai vẫn còn đang là những giả thuyết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ở phần kết luận, tác giả cố tình đồng hóa Thượng đế với những ý niệm mới của thời đại khi tác giả viết “Nếu một nguời nào đó kiên quyết loại bỏ danh từ Thượng đế, thì rốt cuộc anh ta hay chị ta vẫn phải tìm một danh từ khác đại diện cho cái thế lực đã buộc vũ trụ phải như thế này chứ không phải thế khác.” Những từ mới mà tác giả liệt kê như “vũ trụ và các định luật khoa học”, “trùng trùng duyên khởi “ hay “trời sinh ra thế” thì có một ý nghĩa hoàn toàn khác với một Thượng đế trong truyền thống Kitô giáo. Những từ mới này thì vô hồn, máy móc, nhất định, không có ý chí tự do, hoàn toàn khác với một Thượng đế toàn năng, toàn thiện, toàn quyền sinh sát trong Kitô giáo. Vậy có ích gì để tôn thờ cái máy vi tính hay chiếc máy bay, mặc dù chúng có thể làm được những điều kỳ diệu hơn con người? Không những bình rượu khác nhau mà rượu trong bình cũng khác nhau hoàn toàn. Bởi vậy, ngày nay người ta phân biệt ra hai loại Thượng đế. Một Thượng đế của những nhà thần học dựa trên đức tin, và một Thượng đế của những triết gia dựa trên lý trí. Ý niệm về Thượng đế của các triết gia thì trùng hợp với những ý niệm mới vừa đề cập ở trên, chẳng hạn như định luật khoa học, định luật thiên nhiên, mẹ thiên nhiên, lực hút, lực xô đẩy, lực chuyển động, năng lượng… Đúng hơn, các triết gia thời đại đang có khuynh hướng tránh dùng từ Thượng đế trong các bài viết của họ. “Triết học thời đại đang đi theo hướng của các nhà khoa học. Hoặc là nó trực tiếp từ chối sự hiện hữu của Thượng đế và đòi buộc từ Thượng đế chỉ để dành cho hiện tượng của lịch sử mà từ đó (danh từ Thượng đế) khởi thủy phát sinh, hoặc nó định nghĩa lại từ Thượng đế sao cho từ đó mất hết ý nghĩa nguyên thủy và trở thành tên của các lực chuyển động mà các khoa học gia nói đến”. [3]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy rượu đã đổi khác thì việc chọn bình đựng khác cũng là việc nên làm, rất dễ hiểu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Bertrand Russell, Science and Ethics, Religion and Science, Oxford University Press, 1961.<br />
[2]Bertrand Russell, Why I am not a Christian, trang 22, George Allen &amp; Unwin LTD., 1957.<br />
[3]S.E. Frost, Jr. Ph.,D, Basic Teachings of The Great Philosophers, trang 126, Anchor Books, A Division of Random House, Inc. New York.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Đỗ Xuân Phương</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Thượng đế trong mắt ai!</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phải thú nhận rằng sau khi đọc hết bài viết của tác giả Thích Bình Thường (TBT), tôi đã khá bối rối vì những ý kiến đơn giản trong bài viết trước của mình không ngờ lại có thể bị hiểu sai đến thế. Đã biết rằng bàn về Thượng đế là chuyện không dễ dàng, một phần vì “Thượng đế” không có ngôn từ nào chính xác để diễn tả, phần khác là những khái niệm có thể trỏ đến Thượng đế thì lại không được hiểu như nhau ở tất cả mọi người, tôi phải kêu gọi sự thông cảm và chia sẻ hiểu biết của độc giả và của tác giả TBT, như tôi đã thông cảm với ý kiến phê phán của mọi ngưòi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lý thuyết vũ trụ học của Giáo sư Hawking có một trình bày tối quan trọng mà Quentin Smith đã phát biểu chính xác, đó là vũ trụ hữu hạn nhưng không có biên [1] (No-boundary Universe). Mô hình vũ trụ này được xây dựng dựa trên sự kết hợp ý tưởng “tổng lịch sử các quỹ đạo” (sum over histories) của Richard Feynman với thuyết tương đối tổng quát của Albert Einstein. Điều lý thú là mô hình này không có những điểm kỳ dị (Singularity), vụ nổ lớn và hố đen chỉ là những điểm bình thường trên một quả cầu có 4 chiều không gian. Vũ trụ trong mô hình này bộc lộ đặc tính tự thân tồn tại và bất sinh bất diệt, không cần dến một nguyên nhân nào có trước hay nằm ngoài vũ trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều đáng lưu ý là lý thuyết này cũng chỉ ra vũ trụ có thể có nhiều “hình dạng” khác nhau. Nó có thể tựa như quả cầu trơn nhẵn, mà cũng có thể có bề mặt hơi nhăn nhúm như một hạt dẻ. Bằng cách tính toán như các chủ sòng bạc, Giáo sư Hawking đã cho chúng ta biết xác suất để vũ trụ có hình dạng như một hạt dẻ là rất cao (95%). Vũ trụ hạt dẻ ấy là hình ảnh song chiếu (holographic) về vũ trụ có 3 chiều không gian đối xứng và 1 chiều thời gian bất đối xứng (hay thời gian thực) mà chúng ta hằng quan niệm. Những ý kiến vũ trụ học của tác giả TBT dù rất đúng, song lại không trùng khít với cơ sở lý thuyết vũ trụ học mà Quentin Smith đã dựa vào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy thì, cùng dựa trên một lý thuyết vũ trụ học, tại sao lại có thể rút ra nhận định “vô thần” (theo Q. Smith) và “hữu thần” (theo ĐXP)? Vấn đề là ở chỗ định nghĩa thế nào là “thần”! Trong bài viết trước tôi đã nói, chỉ cần nhận Thượng đế như 100% các khả năng của vũ trụ thì hữu thần luận cũng trở nên có lý không kém gì vô thần luận. Với xác suất 95%, thì rõ ràng là vẫn có nguyên nhân nội tại để cho Thích Bình Thường và Đỗ Xuân Phương ngồi viết bài cho talawas, chứ không phải cùng chơi bóng rổ trên sao Hoả. Nguyên nhân nội tại đó, là một thế lực mà con người hay bất kỳ dạng thông minh nào khác, chỉ có thể hiểu chứ không thể chinh phục hay chiếm hữu được. Không giống như việc hiểu biết định luật vạn vật hấp dẫn có thể giúp chế tạo phi thuyền không gian, việc hiểu biết Khởi thuỷ của Vũ trụ chỉ cho phép chúng ta có đức tin và hy vọng. Lý do thì rất đơn giản vì như tác giả TBT đã viết: vũ trụ là một hệ khép kín, và cái hệ khép kín ấy chứa đựng cả loài người lẫn trí thông minh của họ; loài người không thể có bất cứ can thiệp gì vào sự sáng thế, tương tự như đứa trẻ không thể can thiệp vào việc bố mẹ đẻ ra nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trên đây là phần bổ túc cho quan điểm hữu thần dựa trên lý thuyết vũ trụ học, tôi không có ý định và cũng không muốn đi sâu thảo luận về những tranh cãi giữa Q. Smith và W.L. Craig. Để trả lời cho những phê phán liên quan đến ý chí và tự do của tác giả TBT, tôi xin trích lại một lá thư của thầy Thích Nhất Hạnh mà theo tôi, đã trình bày một cách xuất sắc thế nào là “ý muốn của Thượng đế” và tự do của con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>“Cây bưởi trước nhà” </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi đã nói với Thiều về phương pháp quán niệm duyên khởi. Thiều cũng biết tất cả các phương pháp quán niệm trong đạo Phật đều phải được xem là phương tiện mà không phải cứu cánh hay chân lý tuyệt đối. Quán niệm duyên khởi là phá tan những biên giới giả tạo giữa các hiện tượng để thể nhập vào hòa điệu đại đồng của sự sống mà không phải xây dựng và cố chấp một triết thuyết gọi là triết thuyết duyên khởi. Herman Hesse trong cuốn &#8220;Câu chuyện dòng sông” chưa thấy được nên đã đặt vào miệng chàng Tất Đạt Đa một lời phẩm bình về triết lý duyên khởi nghe còn non nớt. Nhà văn nói rằng lý duyên khởi cho thấy hình ảnh một vũ trụ trong đó mọi vật tương quan duyên mà hiện hữu, không có một kẽ hở nào để chứng tỏ có sự sai lệch ra ngoài luật tương quan tương duyên ấy. Do đó, ông không thể quan niệm được vấn đề giải thoát trong vũ trụ này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong Duy thức học, ta thấy có phép quán niệm về ba tự tánh của thực tại: Tự tánh biến kế chấp, Tự tánh y tha khởi và Tự tánh viên thành thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Quán duyên khởi nên theo sự hướng dẫn của Duy thức, vì quên lãng và thành kiến nên ta thường phủ lên thực tại một lớp cố chấp. Vì vậy thực tại bị mang màu sắc biến kế chấp. Biến kế chấp là cái sai lầm về thực tại, cho rằng thực tại là những thể tách biệt, những cái ngã. Đó là nguyên nhân của sự phân biệt, kỳ thị, giận hờn. Để phá biến kế chấp, người hành giả quán niệm tự tánh y tha khởi, tức là sự tương quan tương duyên của vạn hữu trong quá trình sinh thành, tồn tại và hủy diệt. Y tha khởi cần được sử dụng như một dụng cụ quán chiếu mà không được nhận thức là một triết thuyết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Quán chiếu y tha khởi là để thực chứng thực tại, thể nhập thực tại, chứ không phải là để bị kẹt vào y tha khởi. Cũng như dùng chiếc bè để qua bờ chứ không phải để đội lên đầu, do ngón tay chỉ mặt trăng mà thấy được mặt trăng chứ không phải lầm ngón tay là mặt trăng. Hành giả coi cố chấp và y tha khởi như một hệ thống khái niệm thì sẽ bị mắc kẹt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vì vậy, phải có tự tánh viên thành thật. Viên thành thật là một danh từ để chỉ thực lại một khi thực tại đã được thoát khỏi màu của biến kế chấp. Viên thành thật có nghĩa là thế này: Thực tại là thực tại, siêu việt khái niệm. Bất cứ khái niệm nào cũng không thể miêu tả được nó, dù cho nó là khái niệm y tha khởi. Cho chắc hơn, Duy thức đề ra Tam Vô tánh để trung hòa Tam Tự tánh, tránh cho người học đạo không mắc kẹt vào ba tự tánh. Tinh hoa của Đại thừa là ở chỗ ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi mà thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì người hành giả đạt được thứ nhận thức gọi là vô phân biệt trí. Nhận thức ở đây là sự cảm thông màu nhiệm trong đó không có sự phân biệt chủ thể và đối tượng. Như tôi đã nói với Thiều một lần rồi, đây không phải là một cái gì xa xôi đâu Thiều. Bất cứ ai trong chúng ta có thực tập chút ít đều có thể nếm được mùi vị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trên bàn tôi có một xấp hồ sơ cô nhi. Mỗi ngày tôi dịch một ít phụ với các bạn. Khi khởi đầu dịch một hồ sơ, tôi nhìn vào tấm hình em bé và tự nhiên những nét mặt của em gợi nhiều hình ảnh về bản thân tôi và sự liên hệ giữa tôi với các em khiến tôi đi vào một sự cảm thông rất mầu nhiệm. Bây giờ viết những dòng này, tôi thấy rằng trong giờ phút cảm thông ấy, tôi đã dịch những dòng chữ trong hồ sơ với tâm trạng không phân biệt. Tôi không thấy có tôi là người dịch hồ sơ giúp cho em bé, tôi không thấy có em bé là đối tượng của sự thương yêu và giúp đỡ. Em bé và tôi lúc ấy là một, không có ai thương ai, không có ai nhờ ai, không có ai giúp ai. Không có bổn phận cũng không có công tác, không có từ bi, không có Ba La Mật. Cái giờ phút cảm thông đó, nếu chẳng là một tia sáng của vô phân biệt trí thì còn là gì nữa hả Thiều. Khi thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì cây bưởi trước nhà cũng biểu hiện tự thân của nó một cách toàn vẹn. Cây bưởi lúc bấy giờ là chân như, là Phật tánh, là thực tại, là mình. Bao nhiêu người đi qua sân mà đã có mấy người thấy được cây bưởi. Người nghệ sĩ có tâm hồn thế nào đó cho nên thấy được cây bưởi nhiều hơn, sâu hơn kẻ phàm phu. Sở dĩ có một sự cảm thông nào đó vì lòng anh rộng mở. Ăn thua là ở lòng mình. Nếu lòng mình không bị kiến chấp ràng buộc thì tự nhiên mình đi vào chỗ cảm thông với cây bưởi và cây bưởi sẵn sàng biểu lộ tự thân toàn vẹn của nó với mình. Thấy cây bưởi tức là thấy đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có một Thiền sư được hỏi về chân lý mầu nhiệm của thực tại bèn chỉ ra gốc Bạch dương mà nói: &#8220;Nhìn cây Bạch dương kia kìa”. Thiều có hiểu ngụ ý của vị Thiền sư không? Có chứ phải không!” [2]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Hawking, Stephen W., A brief history of the time, bản dịch Việt ngữ, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 1996<br />
[2]Thích Nhất Hạnh, Phép lạ của sự tỉnh thức, Nxb Lá Bối, San Jose 1976.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan_bai2.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5084" title="NhatBan_bai2" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan_bai2.jpg" alt="" width="400" height="288" /></a><em>Thích Bình Thường</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Khi hàng bán đã khác hàng quảng cáo</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đọc xong bài “Thượng đế trong mắt ai!” của ông Đỗ Xuân Phương, tôi có ý định chấm dứt việc tranh luận với tác giả về một vấn đề xưa như trái đất mà cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Đúng ra, vấn đề có thể sẽ không bao giờ có một giải đáp. Tôi bị giằng co bởi hai thực tại. Một đàng tác giả đã kêu gọi sự cảm thông, và một đàng lòng tôn trọng chân lý cần được tìm kiếm trong khả năng hữu hạn của con người. Cuối cùng thì thực tại sau đã thắng, nên tôi xin mạo muội trình bày thêm ý kiến trong bài này, chỉ xin độc giả và tác giả hiểu cho rằng nêu lên những thắc mắc hay những điều đúng sai của nhau không phải là không thông cảm. Trong thâm tâm, lúc nào tôi cũng quí mến và tôn trọng tác giả như một người bạn – hay một vị trưởng thượng &#8211; để được học hỏi thêm. Nếu vì tranh luận mà làm phiền lòng tác giả thì đó là ngoài ý muốn của một người chân tình, có thiện tâm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1. Đúng như tác giả đã nhận định, ý kiến về vũ trụ học mà tôi đã trình bày trong bài “Trả lời bài bàn về Thượng đế cùng Quentin Smith của ông Đỗ Xuân Phương” không trùng khít với cơ sở lý thuyết vũ trụ học mà Q. Smith đã dựa vào. Thực ra, tất cả mọi lý thuyết về vũ trụ học để tìm hiểu sự hình thành vũ trụ hiện nay vẫn đang là những giả thuyết. Có rất nhiều giả thuyết trái ngược nhau và đang chờ những khám phá mới của khoa học để có thể dần dần bị đào thải. Q. Smith khi đưa ra lý thuyết của Hawking chỉ có mục đích chứng minh vũ trụ có thể tự hiện hữu, điều đó thì nghịch với niềm tin tưởng xưa nay rằng phải có Thượng đế là nguyên nhân đầu tiên đã tạo dựng vũ trụ. Còn ý kiến về vũ trụ học tôi trình bày trong bài viết trước là những ý kiến riêng biệt, không liên quan gì tới lý thuyết của Hawking, để chứng minh rằng một vật có thể tự hiện hữu không nghịch lại bất cứ một định luật khoa học nào, từ đó để đi đến kết luận rằng tiền đề trong tam đoạn luận của Craigg không có giá trị chân lý mà không cần phải kêu gọi tới lý thuyết của Hawking. Thực ra khi xem vũ trụ như một hệ khép kín (closed system) không có nghĩa là chấp nhận hay không chấp nhận vũ trụ có biên cương, vì hệ khép kín này là một hệ tưởng tượng bào trùm tất cả toàn cõi vụ trụ và cả Thượng đế, nếu có. Bên ngoài hệ khép kín đó chẳng còn một thứ gì nữa. Vậy khép kín hay mở trong trường hợp này không có gì khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Xét cho cùng thì chúng ta đang bàn vấn đề trên hai căn bản khác nhau. Q. Smith bàn về Thượng đế như một sinh vật (being) có ý chí, tự do, toàn năng, toàn thiện trong nghĩa của truyền thống Kitô giáo; còn tác giả thì lại bàn về một Thượng đế được định nghĩa như “100% các khả năng của vũ trụ”. Nếu hiểu Thượng đế như tác giả đã định nghĩa thì chúng ta nhận thấy vấn đề đã đổi khác. Ngoài những điều khác nhau trong hai định nghĩa mà tôi đã bàn trong phần kết luận của bài trước thì vẫn còn có những điều khác nữa để bàn thêm: Khả năng của một vật chỉ là phẩm chất (quality) của vật đó. Phẩm chất không phải là sự vật (thing) hay một thực thể (entity). Không ai nói “phẩm chất hiện hữu” bao giờ, mặc dù có phẩm chất thật. Cũng không ai nói “cái đẹp hiện hữu”, mặc dù vật đó đẹp thực. Đồng hóa phẩm chất với một sinh vật có ý chí tự do (quality=being) thì hoàn toàn vô lý. Vũ trụ phải tuân theo những định luật khoa học nên có những khả năng nhất định. Những định luật khoa học rõ ràng đang chi phối hay điều hành “100% các khả năng của vũ trụ” một cách máy móc, vô hồn; vậy tại sao Thượng đế toàn năng lại đang bị khuất phục bởi những định luật khoa học? Không lẽ Thượng đế trong nhãn quan của tác giả hết còn là Thượng đế toàn năng? Vậy có lý do gì để phải tôn thờ một Thượng đế yếu kém hơn các định luật khoa học và không có khả năng giúp ích gì cho con người?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lý luận của tác giả có thể được tóm tắt đơn giản như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có A (khả năng của vũ trụ có thực, nhưng không hiện hữu như một thực thể, vì khả năng chỉ là phẩm chất).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">B hoàn toàn khác A (điều này tôi đã bàn).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy B phải hiện hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đến đây thì chúng ta hiểu rõ ràng rằng tam đoạn luận trên chỉ là một ngụy biện khi B khác A. Dù B có giống A hoàn toàn thì chúng ta cũng không thể kết luận B phải hiện hữu, vì A chưa bao giờ hiện hữu như một thực thể. Lối lý luận của tác giả giống như trả lời rằng “100% các khả năng của chiếc máy bay là những thực thể hiện hữu như một sinh vật có ý chí và tự do đã chế tạo ra chiếc máy bay”. Trả lời như vậy sẽ khó làm vừa lòng người đặt câu hỏi, dù người ấy dễ tính đến mức độ nào. Điều đó cho ta thấy Thượng đế trong nhãn quan của tác giả đã đổi khác hoàn toàn với Thượng đế thông thường được hiểu và được tôn thờ trong đại chúng từ xưa nay. Đó là lối lý luận cổ điển của những người muốn bảo vệ tôn giáo khi cần phải thay đổi để hợp với những tiến bộ khoa học. Họ đang quảng cáo một món hàng hoàn toàn khác với món hàng họ đang bán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">2. Để trả lời những thắc mắc và những mâu thuẫn trong lý luận khi bàn về vô vàn sự dữ cũng nằm trong ý định của Thượng đế thì tác giả trích lại một lá thư của thầy Thích Nhất Hạnh để chấm dứt vấn đề. Tôi hoàn toàn tôn trọng sự tự do của tác giả, nhưng tôi thật sự thất vọng khi người ta cứ phải mang “bóng ma của các công án thiền” để làm im lặng mọi thắc mắc. Sau khi đọc đi đọc lại lá thư vài ba lần, tôi vẫn chưa “ngộ” được ý muốn của Thượng đế và sự tự do của con người mà tác giả xem là đã trình bầy một cách xuất sắc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Con người khác con vật nhờ có lý trí để suy luận, và lý trí là vũ khí lợi hại nhất của con người để chống lại mọi sự lầm lẫn. Ngôn ngữ là phương tiện để con người truyền thông tư tưởng với nhau. Bảo tôi phải từ bỏ những thứ ấy để mới hiểu được Thượng đế cũng giống như bảo tôi vất bỏ mọi thứ khí giới khi đang bị thú dữ tấn công. Con người chỉ là vật thụ tạo vô cùng nhỏ bé trước vũ trụ, và lại càng nhỏ bé hơn trước đấng Càn Khôn đã tạo dựng trời đất, muôn loài và muôn vật. Tôi cho rằng con người hữu hạn sẽ quá ngạo mạn khi tưởng mình biết và hiểu được đấng Càn Khôn vô cùng. Biết và hiểu mà không thể giải thích bằng ngôn ngữ loài người thì cũng giống như mấy ông thày bói nại cớ “thiên cơ bất khả lậu” để tránh né vấn đề. Đành rằng trí tuệ của con người thì hữu hạn, nhưng ai mới là người có trí thông minh vô cùng để hiểu và bàn về một Thượng đế vô cùng? Nếu có ai đâu đó tuyên bố rằng hắn biết và hiểu vũ trụ thì lời tuyên bố ấy nghe hữu lý hơn nếu hắn tuyên bố hắn biết và hiểu Thượng đế, mặc dù cả hai đều cực kỳ chói tai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Lạy cụ Lâm Tế Nghĩa Huyền, kẻ hèn này hay đặt những câu hỏi của đời sống bình thường ở trần gian. Được nghe phán rằng đúng hay sai, hợp pháp hay bất hợp pháp, nên làm hay nên bỏ, v.v. là thoả mãn rồi. Tất cả những thứ ấy có thể dùng lí trí để mà hiểu, có thể dùng các giác quan mà cảm nhận, có thể dùng kinh nghiệm mà kiểm chứng. Kẻ hèn này chỉ mong được thế thôi. Nếu hỏi Bộ Giáo dục và Đào tạo rằng cái Quyết định nói trên có tác dụng gì, mà Bộ trả lời: &#8220;Cây bách trước sân&#8221;, thì tôi phải nói trắng ra là công án công iếc gì tôi không biết, ma quỷ thần thánh phật phiếc ở đâu tôi không biết, không có cây bách nào mọc ra giữa sân của Bộ Giáo dục và Đào tạo cả!&#8230;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">… Vẽ chó ngựa thì khó, vẽ ma quỷ dễ hơn. Dùng lí luận, lô-gích, bằng chứng cụ thể để thuyết phục nhau thì khó, dùng&#8230; Công án Thiền dễ hơn nhiều. Vậy xin hiến độc giả một Công án hiện đại mang tên &#8220;Cái mệt của Bộ trưởng&#8221; như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">&#8220;Một phóng viên đến Bộ Giáo dục và Đào tạo hỏi về bộ Luật giáo dục mà chính phủ đang thảo luận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Phóng viên hỏi: Thưa Bộ trưởng, xin Bộ trưởng cho biết những thay đổi trong Luật giáo dục mới.<br />
Bộ trưởng đáp: Hôm nay ta mệt, không thể vì ngươi mà nói được, nên đi hỏi Thứ trưởng.<br />
Thứ trưởng bảo: Sao không đi hỏi Bộ trưởng?<br />
Phóng viên đáp: Dạ, Bộ trưởng dạy đi hỏi Thứ trưởng.<br />
Thứ trưởng bảo: Hôm nay ta bị đau đầu, không thể vì ngươi mà nói được, nên đi hỏi Vụ trưởng.<br />
Phóng viên hỏi Vụ trưởng. Vụ trưởng bảo: Ta không biết.<br />
Phóng viên quay về báo cáo với Bộ trưởng.<br />
Bộ trưởng bảo: Thứ đầu trắng, Vụ đầu đen.&#8221;<br />
</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">(Ghi chú: Nguyên văn Công án này mang tên &#8220;Cái mệt của Mã Đại Sư&#8221; như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">&#8220;Tăng hỏi Mã Đại Sư: Ly tứ cú, tuyệt bách phi. Xin sư chỉ ngay ý Tây lai cho con.<br />
Mã Đại Sư bảo: Hôm nay ta mệt không thể vì ngươi mà nói được, nên đi hỏi Trí Tạng.<br />
Trí Tạng bảo: Sao không đi hỏi Hòa Thượng?<br />
Tăng đáp: Hòa thượng dạy đi hỏi.<br />
Trí Tạng bảo: Hôm nay ta bị đau đầu, không thể vì ngươi mà nói được, nên đi hỏi Hải huynh.<br />
Tăng hỏi Hải huynh. Hải huynh bảo: Ta không biết.<br />
Tăng thưa lại Mã Đại Sư.<br />
Mã Đại Sư bảo: Tạng đầu trắng, Hải đầu đen.&#8221;)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời bình: Phóng viên dốt quá, hỏi ba lần đều bị từ chối mà không chịu tự mình &#8220;ngộ&#8221; ra!” [1]<br />
Thú thực, tôi còn dốt hơn phóng viên nhà báo nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Nguyễn Bình, Bóng ma của các Công án Thiền, talawas 19.3.2004.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Đỗ Xuân Phương</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Mặt hồ dậy sóng, hay sự buôn bán những “bóng ma”</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Quý khách Thích Bình Thường thân mến, sau khi đọc khiếu nại hàng bán khác với hàng quảng cáo của quý khách, bổn tiệm rất lấy làm tiếc cho những giằng co mà quý khách đã phải chịu đựng một cách không cần thiết. Thực ra tất cả vấn đề là ở chỗ quý khách chưa trả đủ tiền cho món hàng Thượng đế mua hôm nọ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1. Hàng của bổn tiệm: Xác suất 95% để vũ trụ xuất hiện như chúng ta đang thấy và Thượng đế là tất cả (100%) mọi khả năng (possibility hoặc potentiality).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Quý khách mới có từng này tiền:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Khả năng của một vật chỉ là phẩm chất (quality) của vật đó. Phẩm chất không phải là sự vật (thing) hay một thực thể (entity). Không ai nói “phẩm chất hiện hữu” bao giờ, mặc dù có phẩm chất thật. Cũng không ai nói “cái đẹp hiện hữu”, mặc dù vật đó đẹp thực.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cùng dùng danh từ “khả năng” song của bổn tiệm hàm nghĩa “có trước khi sự vật hiện hữu” &#8211; mặc dù nghĩa này không sát với nguyên lý tự thân của vũ trụ, song nó phù hợp với hình dung của cơ học lượng tử, một trong hai lý thuyết cơ bản của vật lý học hiện đại. Còn quý khách hiểu “khả năng” sang nghĩa phẩm chất “có sau khi sự vật đã hiện hữu”, thì đó thực là việc không phân biệt được đâu là giấy gói đâu là món hàng chính rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">2. Mã đại sư hiển nhiên là chưa có bằng MBA nên trả lời như vậy rõ ràng là không biết cách kinh doanh, hoặc giả thời xưa khách mua hàng toàn những vị phong lưu nên mới bán hàng kiểu ấy. Còn thời nay bổn tiệm bán hàng qua đại lý talawas nên chỉ trích lấy phần trọng yếu, những mong quý khách họ Thích tài dư bạc dả, biết được giá trị của món hàng. Không ngờ quý khách chưa tới chỗ ấy nên chỉ lấy được cái vỏ bên ngoài, dẫn tới hiểu lầm rồi chê bổn tiệm treo đầu dê bán thịt chó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nay bổn tiệm nhất tâm muốn bán được hàng nên xin hiến quý khách một đại kế. Quý khách mau vứt bỏ hết những rác rưởi nơi văn tự lập thuyết, nhất là những thứ loè loẹt ngoại lai, tỷ như sách khoa học, triết học v.v. của bách gia chư tử Đông Tây, rồi vạn nhật chỉ chọn lấy một cuốn sách Thiền mà mình cho là dễ hiểu nhất đặng nghiền ngẫm tới khi thông suốt. Bách nhật vẫn còn nghi ngại thì có thể tham vấn liệt vị doanh gia, hoặc vì tận tâm muốn mua được hàng thì nên lo sẵn đoản côn phòng khi cần đánh vào đầu mình chăng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">3. Kìa hồ nước trong bị khuấy động, sóng trỗi bạt ngàn. Những lúc ấy làm sao thấy được hòn cuội nằm yên ả nơi đáy hồ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">4. Cung chúc phát tài.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan4.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5085" title="NhatBan4" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan4.jpg" alt="" width="400" height="266" /></a><em>Thích Bình Thường</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Những điều nghịch lý</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đọc qua bài Mặt hồ dậy sóng, hay sự buôn bán những “bóng ma” do tác giả Đỗ Xuân Phương viết, một người với kiến thức trung bình cũng có thể nhận thấy ngay nhiều điều nghịch lý trong lập luận của tác giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1. Điều nghịch lý thứ nhất là tác giả muốn biến món nợ của mình thành nợ của khách hàng để đòi nợ. Trong bài Trả lời bài “Bàn về Thượng đế cùng Quentin Smith” của ông Đỗ Xuân Phương tôi đã minh thị viết:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Tôi xin xác định hiện nay chưa có bộ môn khoa học nào có thể chứng minh có hay không có Thượng đế. Khoa học chỉ có thể chứng minh được rằng một vật có thể tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ở phần cuối của thân bài, tôi cũng đã không quên nhắc khéo tác giả:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Tôi không thể đồng ý với tác giả khi tác giả viết rằng: “Cho đến ngày nay thì chúng ta biết rằng đức tin ấy là có cơ sở khoa học…” Tôi không thấy tác giả cho độc giả biết dựa vào đâu để tác giả xác quyết điều đó. Nếu đã có cơ sở khoa học thì đâu cần phải gọi là đức tin, mà phải đổi thành chân lý khoa học mới đúng. Cho đến nay chưa có khoa học nào, kể cả luận lý học, có thể chứng minh bằng những phương pháp khoa học có một Thượng đế hiện hữu, nghĩa là chẳng có đức tin nào có cơ sở khoa học.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy cái món nợ chứng minh có một Thượng đế hiện hữu như tác giả đã khẳng định trên giấy nợ không những đã được tác giả cố tình quên trả mà tác giả lại còn dư can đảm đòi ngược lại chủ nợ. Ở đây chúng ta thấy rõ ràng tác giả không lý gì đến nguyên tắc ai là người phải trưng bằng chứng (burden of proof) [1] . Nguyên tắc này sẽ dẫn đến một kết luận ngụy biện, sai lầm khi đặt trách nhiệm trưng bằng chứng không đúng bên. Để dễ hiểu hơn, chúng ta chỉ cần đưa ra một nguyên tắc căn bản trong luật học rằng một người được xem là vô tội cho tới khi được chứng minh là có tội. Vậy trách nhiệm chứng minh nằm ở luật sư công tố, không phải ở nơi bị can. Nếu luật sư công tố không chứng minh được bị can phạm tội thì bị can không cần phải chứng minh rằng mình không có tội mà vẫn vô tội. Trong một cuộc tranh luận, bên có trách nhiệm trưng bằng chứng là bên tuyên bố một vật gì hiện hữu, chẳng hạn như có Thượng đế, có ma quỉ, có người hành tinh, có ông già Noel, hoặc có những quyền lực siêu nhiên… Nếu tác giả không thể chứng minh có Thượng đế bằng những bằng chứng hẳn hoi thì phải kết luận là không có Thượng đế, thế là xong; phía bên kia không cần phải chứng minh một điều gì khác. Khi tác giả đòi hỏi phía bên kia phải chứng minh không có Thượng đế là tác giả đang sử dụng ngụy biện “burden of proof” để hòng đi đến kết luận là có một Thượng đế hiện hữu; dĩ nhiên nếu phía bên kia không chứng minh được, vì tác giả dư biết rằng thường là sẽ rất khó chứng minh hơn cho một phủ định. Lối lý luận như vậy rõ ràng đã đi đến một kết luận sai lầm, ngụy biện vì đã đặt trách nhiệm trưng bằng chứng không đúng bên. Tác giả đang muốn biến món nợ của mình thành món nợ của khách hàng để đòi nợ, mặc dù phải dùng lối ngụy biện vi phạm một nguyên tắc căn bản trong luật học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">2. Điều nghịch lý thứ hai là tác giả đang rao bán một món hàng không có thực nên không tôn trọng nguyên tắc “tiền trao cháo múc” trong giao dịch buôn bán. Hàng của tác giả là một hàng không có thực, chứ đừng nói chi đến hàng giả mạo, vì tác giả chưa bao giờ trình bày một chứng minh nào để thuyết phục khách hàng tin là mình có hàng, ngoài điều mang những “bóng ma của các công án thiền” ra để úp úp mở mở, lập lòe đánh lừa những người nhẹ dạ. Tác giả còn khẳng định vũ trụ có những khả năng trước khi vũ trụ hiện hữu mà cũng chẳng đưa ra một chứng minh nào. Điều khẳng định này của tác giả không những nghịch với những quan sát thông thường của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày; và còn nghịch lại nguyên lý hiện hữu có trước yếu tính (existence precedes essence) [2] của Martin Heidegger, nghĩa là một vật phải hiện hữu trước khi có những khả năng. Vậy xin hỏi tác giả rằng khả năng của tác giả trước khi tác giả được sinh ra là gì? Không có cháo để múc bán mà đã đòi tiền khách hàng, vậy điều đó không phải là một điều nghịch với lý lẽ thông thường sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">3. Điều nghịch lý thứ ba là tác giả đã tự mâu thuẫn khi tác giả xem trí tuệ và mọi kiến thức khoa học như rác rưởi, lòe loẹt ngoại lai, và chỉ dùng Thiền để biết và hiểu Thượng đế. Phải nên biết rằng tác giả đã viết nhiều bài ca ngợi và khuyến khích sử dụng trí tuệ đăng trên talawas. Có một bài có cái tựa “Sapere aude! Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ CỦA CHÍNH MÌNH! “ trong đó tác giả đã viết như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Sự trưởng thành ấy khiến con người có một tầm nhìn bao quát, chung nhất, bao trùm mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ và cùng với nó, là tình yêu thương và sự cảm thông, xuất hiện như hệ quả tất yếu của trí tuệ cao cả”. [3]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hơn nữa, trong bài “Khai sáng và giác ngộ” tác giả còn viết rằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Thêm nữa, trong &#8220;bát chính đạo&#8221; của Phật Thích ca (ông TLK đọc nhiều hẳn là đã biết), có một đạo là &#8220;chính tinh tiến&#8221;, một lời nhắc nhở cho người thực hành thiền định phải dụng công phu trí tuệ, quán chiếu sự thật. Đã gọi là &#8220;tinh tiến&#8221; thì không thể là nghỉ ngơi trong mọi khía cạnh. Nếu hiểu nghỉ ngơi là nghỉ ngơi thân xác hay là một sự &#8220;dọn dẹp&#8221; về tinh thần, thì tôi đồng ý rằng: thiền định cần đến sự nghỉ ngơi, một sự nghỉ ngơi cần thiết để chuẩn bị cho người ấ́y bước vào hoạt động trí tuệ với cường độ cao &#8211; thấu triệt chân lý.” [4]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy có phải lần này tác giả đang tự mâu thuẫn khi xem trí tuệ và kiến thức khoa học như rác ruới, lòe loẹt ngoại lai không? Một quan niệm kiểu như “sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc” chỉ là trò chơi chữ ngụy biện để giữ chúng ta ngụp lặn mãi trong mê lộ, một thiên la địa võng không lối thoát. Tôi cho rằng tác giả đang có những quan điểm bất nhất, lập luận luẩn quẩn theo lối ngụy biện cốt để đi đến kết luận mà tác giả đã có thành kiến. Tôi không lấy đó làm ngạc nhiên vì tôi đã biết rằng trí tuệ là vũ khí lợi hại nhất để giúp con người tránh sai lầm, nên đó chỉ là hệ quả tất yếu của việc vứt bỏ trí tuệ và mọi kiến thức khoa học vào sọt rác. Trí tuệ và mọi kiến thức khoa học nhất định không phải là những “mặt hồ dậy sóng” làm cản trở con người thấy chân lý. Chỉ có lối nhìn của những người thiển trí kiểu “tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” mới làm cản trở con người trong việc tìm chân lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">4. Thực ra, Thiền chỉ là một trong rất nhiều phương pháp giúp ta đạt hạnh phúc, không phải giúp ta biết và hiểu Thượng đế như tác giả đã trình bày. Nếu bạn thực hành Thiền để có một trí óc minh mẫn từ đó bạn có thể có những tư tưởng tích cực hơn cho cuộc sống của bạn thì một người khác chơi thể thao hay tập “yoga” cũng có thể đạt được cùng kết quả. Kết quả nhiều ít thì còn tùy thuộc cách thức thực hành. Thiền Tông là một trong nhiều tông phái khác nhau của đạo Phật. Đạo Phật có cứu cánh diệt khổ, còn những thứ gì khác thì không muốn lý đến. Đạo Phật và đạo Kỳ Na cùng có một mẫu số chung là vô thần. Dùng Thiền để biết và hiểu Thượng đế là đi nghịch với giáo lý Phật giáo. Chính đức Thích Tôn cũng đã từ chối sự hiện hữu của Thượng đế trong khi ngài đọc kệ:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Ai có mắt hãy nhìn cảnh khốn khổ kia<br />
Sao Brahma không tạo ra pháp tốt lành<br />
Và nếu quyền năng Ngài vô hạn<br />
Sao tay Ngài không giơ lên chúc phúc<br />
Sao tạo vật chìm đắm trong đau khổ<br />
Mà Thượng đế vẫn làm ngơ<br />
Sao dối trá si mê ngự trị<br />
Sao chân lý và lẽ công bình bị chà đạp<br />
Ta coi Brahma ấy bất nhân<br />
Vì đã sáng tạo nên một thế giới hư hỏng<br />
Nếu có đấng Tối cao<br />
Tạo ra kẻ lành kẻ dữ<br />
Tạo ra điều thiện điều ác<br />
Thì tội lỗi do Ngài<br />
Còn con người bất khả và vô can.” [5]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Còn trong kinh Kỳ Na cũng có viết:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Kẻ điên mới phát biểu Tạo hóa sáng thế<br />
Thuyết sáng thế vô căn cứ đáng bị bác bỏ<br />
Nếu Thượng đế là đấng siêu nhiên không phụ thuộc thì Ngài ở đâu?<br />
Thế gian chẳng cần tài năng sáng tạo của thần linh<br />
Khởi thủy và cách chung tự nó vẫn thế chứ đâu phải do ai tạo ra.<br />
Đó là nguyên lý hiện sinh và tồn tại Mahapurana.” [6]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chẳng cần phải có MBA, một người có kiến thức trung bình cũng hiểu được rằng hàng bán không được là tại chính món hàng không đủ tiêu chuẩn, nay thế này mai thế nọ, không đáp ứng được thị hiếu quần chúng; và cũng tại chủ tiệm quảng cáo không đủ hữu hiệu thuyết phục khách hàng. Vậy xin đừng phàn nàn chê trách khách hàng chúng tôi không đủ phong lưu hay không có tiền dư bạc dả để mua hàng!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù sao thì tôi vẫn thích phong cách bán hàng của Mã Đại Sư hơn, mặc dù cả hai, ông và tác giả, chẳng ai bán được hàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Độc giả có thể vào địa chỉ sau đây để tìm hiểu về cách dùng “burden of proof” để ngụy biện: http://search.yahoo.com/search?fr=FP-pull-web-t&amp;p=burden+of+proof<br />
[2]S.E. Frost, Jr. Ph.,D, Basic Teachings of The Great Philosophers, trang 265, Anchor Books, A Division of Random House, Inc. New York.<br />
[3]Đỗ Xuân Phương, Sapere aude! Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ CỦA CHÍNH MÌNH!, talawas 27-2-2004.<br />
[4]Đỗ Xuân Phương, Khai sáng &#8211; Giác ngộ, Trao đổi với ông Trần Lai Khê, talawas 3.4.2004.<br />
[5]Phan Thiết, Hành hương đất Phật, Ký sự, trang 11 và trang 74, Southern Stars Publisher, Australia.<br />
[6]Sđd</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Đỗ Xuân Phương</em><strong><br />
<span style="font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: medium; color: #800000;">Đức tin vào Thượng đế của nhà vật lý</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi không ngạc nhiên khi đọc bài viết “Những điều nghịch lý” của tác giả Thích Bình Thường (TBT), một phần vì đã dự liệu trước những rắc rối có thể xảy ra do sự hạn chế của ngôn từ khái niệm, phần khác là kinh nghiệm của các vị tiền bối rằng món hàng Thượng đế không hề dễ dàng buôn đi bán lại. Nhưng dù sao, cái sự sống “đi vào kêu la” đã thúc đẩy những ngón tay của tôi gõ trên bàn phím chứ không thể “thở dài bước ra” với một kết thúc như thế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Xin trích lại câu của tác giả TBT:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Tôi xin xác định hiện nay chưa có bộ môn khoa học nào có thể chứng minh có hay không có Thượng đế. Khoa học chỉ có thể chứng minh được rằng một vật có thể tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Cơ sở khoa học, đồng thời là khởi nguồn cho cuộc thảo luận về đề tài Thượng đế hôm nay, chính là lý thuyết vũ trụ học của giáo sư Stephen Hawking mà tôi đã trích dẫn không ít hơn hai lần. Có lẽ vấn đề là ở chỗ tác giả TBT không tiếp cận được với hệ quả triết học của lý thuyết này, nên cứ nhất mực cho rằng đã là khoa học thì không có chỗ cho những quan niệm về Thượng đế. Nay tôi muốn hỏi lại tác giả TBT: liệu có thể đặt cái tên nào dễ gọi hơn cho cái vật có thể tự hiện hữu mà không cần đến một nguyên nhân đầu tiên đó chăng?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một điều cần nhấn mạnh là, tuy nội dung của lý thuyết này không có chỗ nào chỉ đích danh Thượng đế, song khi xem xét kỹ càng thì không nhà vật lý nào cũng dám loại trừ việc hiểu Thượng đế hiện hữu trong một yếu tố có tên gọi là “nguyên lý vị nhân” (anthropic principle). Mặt khác, với sự ra đời của cơ học lượng tử, quyết định luận khoa học (Scientific determinism) từ lâu đã không còn giúp con người tự tin vào việc điều khiển mọi chuyện với độ chính xác cao hơn giới hạn của nguyên lý bất định (Uncertainty principle). Nếu như sự kiện xảy ra mà không thể đoán định trước với độ chính xác tuyệt đối, thì chúng ta phải thừa nhận có sự hiện diện của một thế lực ẩn giấu đằng sau xác suất tính của sự kiện đó. Khoa học một khi đã ngồi đồng hạng với sự may rủi thì liệu có còn giữ được vị thế của một quan toà công minh nữa không? Câu trả lời đã quá rõ, vấn đề bây giờ chỉ còn là thái độ của chúng ta, những con người, trước sự thật lạnh lùng này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có hai thái độ khả thể của con người mà lần trước tôi đã gọi là đức tin vô thần và đức tin hữu thần, trên cơ sở nối tiếp những ý kiến của Q. Smith. Như đã nêu ở trên, cả hai đức tin đều rút ra từ cùng một lý thuyết vũ trụ học, song lại có sự phân biệt về hệ quả tâm lý đối với một cá nhân cụ thể. Trong đức tin vô thần, vì không quan niệm được tính chất thiêng liêng của hiện hữu nên tâm cảm của nhà vô thần trở nên lạnh lùng, khách quan trước những biến đổi của thế giới, giống như thể du khách lững thững đi dạo quanh ngắm các con vật nhốt trong sở thú. Trái lại, đức tin hữu thần gắn sự tồn tại của cá nhân với vạn hữu trong một sự liên kết vô cùng phong phú và vi tế, đến mức có thể nói là thần thánh. Nhận thức về sự liên kết này dẫn tới tâm cảm nồng nhiệt và cảm thông màu nhiệm, cái trạng thái ấy lại có tác động ngược lại tới khả năng nhận thức khiến cho nhận thức vươn xa khỏi những giới hạn của giác quan. Một bằng chứng sống động là nhà vật lý gốc Việt &#8211; giáo sư Trịnh Xuân Thuận, người đã thể nghiệm cái cảm xúc hoà điệu vào nghiên cứu vũ trụ. Trong chuyến đi giảng dạy tại Việt Nam tháng 7/2004 vừa qua, ông cho biết: “sự hoàn hảo và hài hòa tuyệt vời của vũ trụ khiến ông tin vào nguyên lý sáng tạo, tức là vũ trụ hiện nay không phải được sinh ra ngẫu nhiên, mà được sáng tạo có chủ ý. Tuy nhiên, &#8220;đấng sáng tạo&#8221; đó không phải là con người cụ thể, như Chúa hay Phật tổ” [1] . Đương nhiên vế sau trong phát biểu của giáo sư Thuận trùng với ý của Q. Smith trong việc đả phá sự mê tín vào một Thượng đế nhân cách hoá hình thành do ngu muội của nhiều thế hệ con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong bài viết đầu tiên của mình, tôi đã thử định nghĩa Thượng đế là tập hợp mọi khả năng (100%) của vũ trụ, nhưng cũng chẳng có gì trở ngại nếu gọi nó bằng một cái tên khác như Thiên nhiên vĩ đại chẳng hạn. Thượng đế chỉ là một cái danh xưng theo truyền thống Do Thái, trỏ vào thế lực đã tạo tác nên những gì chúng ta đang thấy. Các nền văn hoá khác, cộng đồng khác, thậm chí bất kỳ người nào cũng có thể có những cái tên khác đặt cho nó. Có cái tên dài dòng như Chân như tự tánh bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh, cũng có cái tên cụt lủn một chữ như Đạo; có cái tên tha thiết đầm ấm như Cha của chúng con ở trên trời mà cũng có cái tên nghe lạnh lùng như Hiện thực khách quan; có cái tên vang vọng như Allah mà cũng có cái tên tầm thường như Vật ấy. Mọi quan niệm của loài người về hiện hữu đó đều hội tụ, mười phương tám hướng đều thấy vật ấy là cái Một &#8211; Duy nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi so sánh ý nghĩa mà không câu chấp tiểu tiết các danh tự kể trên, đã có một âm vang mà tôi tin tưởng rằng đó là sự đồng điệu của các học thuyết lớn trong lịch sử nhân loại. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ biện luận rất sơ sài những tính chất của Thượng đế qua lăng kính của vật lý học, đó là Thượng đế bất tử, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ. Bất tử thì đã rõ, vì lý thuyết vũ trụ học của giáo sư Hawking đã cho chúng ta biết rằng vũ trụ tự thân tồn tại; Toàn năng, bởi vì hết thảy mọi sự vật từ dải Ngân hà cho đến hạt quark đều sinh ra, lớn lên, già lão và chết đi trong biên giới không gian và thời gian của vũ trụ; Toàn thiện, toàn mỹ bởi vì tất cả những gì được gọi là thiện, là mỹ đều là sản phẩm của chuỗi tiến hoá trong lòng vũ trụ dựa những điều kiện cơ bản của vũ trụ như bốn tương tác cơ bản hay khối lượng của hạt electron v.v. Còn nhiều nữa những tính chất của Thượng đế mà những nhà hiền triết đã bằng cách nào đó cảm nhận được, đều có thể được lý giải phù hợp với những đặc điểm của cái mà tác giả TBT gọi là vật tự thân tồn tại không cần đến nguyên nhân đầu tiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trở lại với yêu cầu được “xét xử tại toà” của tác giả TBT, có lẽ tôi nên chấp nhận đây là một trường hợp tranh tụng bất khả phân thắng bại giữa vô thần và hữu thần. Giả sử có muốn tìm một toà án thực sự để xử thì chắc chắn không một quốc gia nào trên thế giới (trừ nước Afganistan thời còn chế độ Taliban) dám xét xử vấn đề này, đơn giản vì nó thuộc phạm vi đức tin hay tâm linh. Thay vào đó, chỉ có một loại quan toà khác thường được xưng là lương tâm. Trong trường hợp lương tâm của tác giả TBT nhất thiết bác bỏ Thượng đế, thì vị quan toà ấy vẫn phải gật đầu trước Vật tự thân tồn tại. Mặt khác vị quan toà đó chưa chắc đã đủ tự tin để buộc Tổng thống Hợp chủng quốc và vô số người khác như linh mục, chánh án, cô dâu chú rể v.v. không được đặt tay lên Kinh Thánh khi tuyên thệ, với lý do trong quyển sách đó Jesus Christ đã phát biểu rất vô lý rằng: “Ai tin ta, người đó sẽ thấy Cha”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sau nhiều tháng ngày suy tư, Phật Thích Ca đã thấy sự hiện diện của Chân Như (Brâhman = Thượng đế) nơi chính mình và hết thảy chúng sinh. Ngài đã chứng thực hạnh phúc và truyền lại cho đời sau con đường để đến đó. Thiền là một con đường thẳng (trực chỉ) tới giác ngộ không cần tới những suy lý, những cân nhắc, những so sánh gọi là lối tư duy biện biệt. Những rác rưởi loè loẹt mà bổn tiệm muốn khuyên quý khách TBT vứt bỏ, chính là thứ tri kiến này &#8211; cũng là chỗ mà Immanuel Kant đã cảnh cáo người đời: muốn khai sáng thì phải lìa bỏ được sự dựa dẫm vào sách vở [2] . Quý khách TBT đã cất công tra tìm những điều cũ xưa thì kính mong quý khách tìm cho đủ, nhất là vấn đề phân biệt giữa trí năng bất biệt của thiền định với khoa học hình thức. Không bán được hàng cho quý khách TBT, nhưng tôi vẫn trân trọng mà cho rằng khách hàng là Thượng đế &#8211; trong tác giả TBT có đầy đủ những thành phần của Thượng đế đang chờ chiếu sáng và mở rộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Để kết thúc bài viết cũng không ít nghịch lý này, xin chúc tác giả Thích Bình Thường cùng quý độc giả talawas một năm con gà gáy gọi bình minh, thân tâm an lạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Chuyến về Việt  Nam của GS. Trịnh Xuân Thuận &#8211; Tổng hợp của Vietsciences (http://vietsciences.free.fr)<br />
[2]Immanuel Kant, Khai sáng là gì?, talawas 19.02.2004.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Đỗ Xuân Phương</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Tại sao tôi là con chiên của Chúa</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong số thư độc giả ngày 17/3/2005, chủ đề “Thượng đế” nhận được sự quan tâm của nhiều bạn đọc talawas với những ý kiến phẩm bình khác nhau, tuy vậy những ý kiến dưới đây xin được coi như sự phúc đáp hoàn toàn bình đẳng và chỉ dựa trên tinh thần trao đổi học thuật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1. Tác giả Thích Bình Thường (TBT) đã trích dẫn Bertrand Russell, rằng ý tưởng về “nguyên nhân đầu tiên” là hệ quả trực tiếp của cái mà ông gọi là “trí tưởng tượng nghèo nàn”. Theo tôi, Russell đã nói cùng một ý với một nhân vật nổi tiếng khác là Phật Thích Ca, người đã cư xử như một người Ấn Độ chính cống khi làm thinh trước những thắc mắc về “nguyên nhân đầu tiên”. Phật cho chúng ta biết rằng: câu hỏi đặt sai thì không bao giờ có câu trả lời, còn Russell thì cho rằng người nào đặt câu hỏi “cái gì là nguyên nhân đầu tiên?” thì sẽ mắc kẹt trong sự nghi ngờ bất tận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một lần nữa tôi muốn nói rằng việc tìm hiểu Thượng đế đòi hỏi chúng ta phải vứt bỏ được những trói buộc của ngôn từ khái niệm và phải sử dụng được trực giác của mình. Kinh Quán niệm đã giảng rõ mục đích của quán niệm là để nhận thấy sự tồn tại vô thường của chính mình và vạn hữu. Vô thường, tức là không cố định mà nối tiếp nhau trùng trùng điệp điệp. Một anh hay chị đang đọc những dòng này có thể cho rằng “ta đang tồn tại” mà không nghĩ tới thủa chưa chào đời anh / chị chỉ là sự kết hợp của hai tế bào nặng chưa tới một nanogram. Cái hợp bào ấy hấp thụ khí trời cùng dinh dưỡng bên ngoài, rồi học ăn học nói, học gói học mở trở thành một con người hiện hữu nơi đây, để rồi 100 năm sau lại tan thành cát bụi. Quán niệm về sinh tử cho chúng ta biết “ta là vô thường”, đến được chỗ này thì dường như trí tưởng tượng của chúng ta đã tăng lên một bậc?!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi đã đồng ý rằng vạn hữu vô thường, thì liệu còn có cái hữu thường? Ở đây có một sự mâu thuẫn hình thức: đã nói “vạn hữu”, không lẽ lại còn một cái nằm ngoài vạn hữu. Mâu thuẫn này sẽ được giải quyết nếu quy vạn hữu về một thực thể thống nhất và bao trùm, là cái mà chúng ta thường gọi là Vũ trụ. Điểm khởi đầu Bigbang của Vũ trụ là một sự kiện đã xảy ra cách nay chừng 14 tỷ năm với tất cả vật chất và năng lượng được bung ra từ một điểm cực nhỏ. Chúng ta đã có một điểm khởi đầu của thời gian, song Giáo sư Hawking còn chứng minh một sự thật khác nữa, đó là Vũ trụ có vô số điểm khởi đầu như thế mà không cần đến tác động bên ngoài. Trình bày bằng ngôn ngữ vật lý học và toán học thì vũ trụ có hai kiểu thời gian, một thời gian “thực” ứng với vạn hữu vô thường, một mặt khác là thời gian “ảo” ứng với nhất thể hữu thường. Công trình của GS Hawking là một bằng chứng khoa học cho cái hữu thường, và cái hữu thường ấy bao hàm tất cả những sự vật vô thường như tôi và bạn. [1]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">2. Về ý kiến của tác giả TBT xoay quanh “một nguyên nhân”, tôi nghĩ ở đây lại có một sự hiểu nhầm về các khái niệm của vật lý. Thượng đế là Vũ trụ, chứ không phải là sinh vật hay hữu thể nằm trong Vũ trụ. Có như thế thì Thượng đế mới tự do, toàn năng, toàn thiện. Những dẫn giải của ông TBT về năng lượng và khối lượng chỉ áp dụng cho những sự kiện xảy ra trong lòng Vũ trụ, do đó chúng là vô thường tại. Nhưng khái niệm Vũ trụ trong trường hợp này trỏ tới một hiện hữu thường tại cao hơn những gì xảy ra bên trong nó. Để hiểu Thượng đế, do đó, chúng ta phải có sự tổng quát hoá, khái quát hoá chứ không phải phân tích và suy luận lôgic.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">3. Một bạn đọc có ý kiến rằng Thượng đế của tôi không phải là của người Thiên Chúa Giáo, tôi xin được nói rằng: tôi là con chiên của Chúa, cũng như tôi là một Phật tử. Khi Russell tuyên bố lý do ông không phải là Christian thì một cách hiểu về chuyện đó là: ông không chấp nhận quan điểm mà rất nhiều người mặc định ghép cho tư tưởng về Thượng đế của Jesus. Đã đến lúc chúng ta phải xem xét lại và xác định ý nghĩa thật sự ẩn giấu dưới những trang kinh Thánh, hay lý do tam giáo đồng nguyên của đạo Cao Đài. Mời bạn hãy tìm đọc những bài viết đã đăng trên talawas của những nhà nghiên cứu về sự tương đồng giữa Đạo Phật và Thiên Chúa. [2]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">4. Để bác bỏ luận đề “Thượng đế là toàn năng và thượng đế sáng tạo ra thế giới” của các nhà thần học kinh viện, Cavnilo hỏi: “Thượng đế có thể tạo ra tảng đá mà ông ta không nhấc nổi hay không?”. Nếu người trả lời chọn một trong hai khả năng, thì kiểu gì cũng anh ta cũng thua. Chọn khả năng đầu “có thể tạo ra được”, sẽ dẫn tới một kết luận là tồn tại tảng đá mà Thượng đế không nhấc nổi. Hệ quả của điều này là Thượng đế không toàn năng. Chọn khả năng sau “không thể tạo ra được” thì chính người trả lời đã gián tiếp bác bỏ luận đề Thượng đế là toàn năng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng thưa quý vị độc giả, cây gậy đập vào lưng Cavnilo ở đây là: Liệu Thượng đế có sáng tạo ra tảng đá và nhấc nó lên không, khi mà chính “ông ta” là tảng đá? Thượng đế vô thuỷ vô chung thì đâu có hành động như một con người, chỉ có con người mới đặt câu hỏi và suy diễn về Thượng đế dựa trên trí tưởng tượng nghèo nàn của mình mà thôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Vật lý học sử dụng khái niệm thời gian thực với quy ước trong tính toán là thời gian đo bằng trị số thực, ví dụ như +2 và -2 đều là kết quả khai căn bậc hai của một số dương +4, còn thời gian ảo được đo bằng trị số ảo, ví dụ như +2i và -2i đều là kết quả khai căn bậc hai của một số âm –4. Xét trên bình diện toán học thì số thực và số ảo hoàn toàn ngang nhau về ý nghĩa “có thực”.<br />
[2]Holger Kersten, Phật Đà và Giê Su &#8211; Một so sánh, Nguyễn Phan Thịnh dịch, talawas 13.1.2005.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Thích Bình Thường</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Những điều bí ẩn</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan5.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-5086" title="NhatBan5" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/NhatBan5.jpg" alt="" width="300" height="299" /></a>Thỉnh thoảng chúng ta được đọc một vài bài viết trình bày những khám phá mới của khoa học với chủ ý cố gắng chứng minh cho một Thượng đế hiện hữu. Người đọc dễ lầm tưởng rằng khoa học đã xác quyết còn có những quyền lực siêu nhiên tàng ẩn bên trong những điều bí ẩn mà con người không thể khám phá, và đã gán cho tác giả những quyền lực ấy là Thượng đế. Nguyên lý vị nhân (Anthropic principle) là một trong những lập luận mà những nhà hữu thần đã dùng nhiều trong mấy thập niên qua để cố gắng dùng khoa học hổ trợ cho hữu thần luận. Tuy nhiên, những bài viết như vậy không thể được tìm thấy trong những tạp chí khoa học có giá trị tầm vóc. Mọi khám phá của con người cho đến nay đều cho thấy tất cả vẫn phù hợp với những định luật khoa học. Vũ trụ và sự sống vẫn đang tiến hóa theo những diễn biến hoàn toàn tự nhiên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguyên lý vị nhân [1] </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khoa học đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng sự sống trên trái đất đã phát triển lệ thuộc trên một ít hằng số vật lý mà chỉ cần một hằng số thay đổi một chút thì sự sống như hiện tại đã không xảy ra. Có một sự cân bằng gần như tuyệt đối liên hệ tới những hằng số đó để nguyên tử “carbon” và những nguyên tử khác được thành lập ngay từ lúc ban đầu trước khi tiếp tục diễn biến phát sinh sự sống. Tất cả sự sống trên mặt đất đều đặt căn bản trên nguyên tử “carbon”. Nếu lực hút của các dương điện tử yếu hơn lực đẩy thì các vì sao đã xụp đổ trước khi có phản ứng hạch nhân tạo ra các nguyên tử “hydrogen” và “deuterium”. Những phản ứng nơi các vì sao tùy thuộc hoàn toàn vào những thuộc tính và số lượng dồi dào của các nguyên tử “deuterium” và “helium”. Sẽ không có nguyên tử “deuterium” nếu trọng lượng của những dương điện tử hay trung hòa điện tử khác đi một chút so với con số hiện tại. Sự hiện diện dồi dào về lượng của các nguyên tử “hydrogen” và “helium” hàm ẩn một sự thăng bằng về lực hút mạnh và lực hạch nhân yếu. Nếu lực hạch nhân yếu này mà mạnh hơn một chút thì vũ trụ chỉ gồm 100% là những nguyên tử “hydrogen”, vì các trung hòa điện tử sẽ tự hủy dần để không thể tạo được những nguyên tử “deuterium” và “helium”. Ngược lại, nếu lực yếu ấy mà còn yếu hơn một chút nữa thì vũ trụ chỉ gồm 100% nguyên tử “helium”. Cả hai thái cực trên đều dẫn đến việc vũ trụ sẽ không có sự sống như sự sống hiện tại trên mặt đất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ những khám phá khoa học đó, các nhà hữu thần đã ồn ào cho rằng chắc chắn phải có một Thượng đế hiện hữu đã tạo dựng những điều kỳ diệu như vậy để vũ trụ có sự sống. Vũ trụ đã được tạo dựng để phục vụ con người, vì vũ trụ cho chúng ta thấy mục đích của Thượng đế đã hổ trợ sự sống ngay từ khi vũ trụ mới thành hình. Họ tin có một sự liên hệ mật thiết giữa những điều trùng hợp ngẫu nhiên và ý định tri thức sắp xếp sự việc. Nếu những thuộc tính hay hằng số vật lý của những nguyên tử xuất hiện đầu tiên trong vũ trụ khác hơn một chút thì vũ trụ đã không thể có sự sống như hiện tại. Lập luận này được gọi là nguyên lý vị nhân, và là nối tiếp lập luận cổ điển dựa trên sự thiết kế tài tình của Thượng đế (argument from design) đã từng được diễn giải dưới nhiều hình thức trong nhiều thế kỷ. Đúng hơn, đó chỉ là một lập luận dựa trên những sự trùng hợp ngẫu nhiên có vẻ như vị nhân chứ không phải là một nguyên lý như các nhà hữu thần vẫn thường gọi và đã trở thành quá quen thuộc đến nỗi không còn ai thắc mắc, đặt lại vấn đề. Thực vậy, nếu xét cho kỹ thì chúng ta sẽ thấy những lập luận như vậy không có cơ sở khoa học và lại còn mâu thuẫn nhau nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nguyên lý vị nhân lập luận dựa trên một giả thuyết chưa được chứng minh, là chỉ có một loại sự sống như sự sống hiện tại trên mặt đất, có căn bản từ nguyên tử “carbon”; và trên một giả thuyết khác là chỉ có một vũ trụ duy nhất. Làm sao chúng ta có thể xác quyết được rằng chỉ có một loại sự sống như vậy? Trái đất chỉ là một hạt cát nhỏ trong giải ngân hà mà vũ trụ còn có hàng trăm tỉ giải ngân hà khác. Biết đâu lại chẳng còn có nhiều sự sống khác không đặt căn bản trên nguyên tử “carbon” ở một hành tinh nào đó trong một giải ngân hà nào đó? Khoa học chỉ có thể xác định rằng tất cả sự sống trên mặt đất đều đặt căn bản trên nguyên tử “carbon” nhưng không thể xác định là toàn cõi vũ trụ chỉ có một loại sự sống như vậy. Chẳng có lý do gì để chúng ta có thể loại bỏ một giả thuyết rằng còn có những loại sự sống khác ở những hành tinh khác không có cùng căn bản như sự sống của chúng ta. Hơn nữa, cũng có thể còn có hàng tỉ vũ trụ khác trải dài đến vô tận mà con người chưa biết đến. Vậy sự sống trên mặt đất dựa trên căn bản nguyên tử “carbon” chưa chắc phải là loại sự sống duy nhất. Vũ trụ này cũng chưa chắc phải là một vũ trụ duy nhất. Trái đất này nếu bị tan biến thì cũng giống như lòng đại dương thiếu bớt một hạt cát nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dựa trên những khám phá mới đây của khoa học về cách dùng máy vi tính để thiết lập những mẫu sống nhân tạo (artificial life), giáo sư vật lý Victor J. Stenger đã chứng minh năm 1995 cho chúng ta biết còn có thể có những sự sống khác nếu vũ trụ được tiến hóa trong những điều kiện khác. Vũ trụ đã tiến hóa tuân theo những định luật may rủi, nguyên lý lựa chọn tự nhiên (natural selection) và những định luật khoa học khác. Vậy nguyên lý vị nhân không có căn bản khoa học vì nó đã được dựa trên những giả thuyết không đáng tin cậy. Khoa học hiện nay cho biết những giả thuyết đó rất có thể sai lầm hoàn toàn. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy Sao hỏa có thể đã một thời có sự sống. Vì không có lý gì để có thể tin là không còn có sự sống khác ngoài không gian nên Cơ Quan Không Gian Hoa Kỳ (NASA) đang đi tìm dấu vết sự sống trên Sao hỏa. Đó là mục tiêu đứng hàng đầu, tốn kếm hàng trăm tỉ Mỹ kim cho những cuộc thám hiểm ngoài không gian trong nhiều thập niên tới. Vậy không có bằng chứng gì để chúng ta phải tin rằng không còn có sự sống khác ngoài sự sống trên mặt đất; và cũng chẳng có bằng chứng nào để xác quyết được rằng vũ trụ chúng ta đang sống chỉ là một vũ trụ duy nhất. Do đó, nguyên lý vị nhân chỉ là một lập luận đặt căn bản trên những điều trùng hợp ngẫu nhiên mà những nhà hữu thần tin là vị nhân. Khi các nhà khoa học nói về nguyên lý vị nhân, họ chỉ muốn nói rằng nếu chúng ta không thể cho rằng chỉ có một loại sự sống như sự sống của chúng ta, thì chúng ta cũng không thể cho rằng chỉ có một vũ trụ như vũ trụ chúng ta đang sống. Rất có thể còn có rất nhiều vũ trụ với những tập hợp hằng số vật lý khác nhau để có những sự sống khác sự sống của chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Điều khôi hài lý thú hơn nữa là lập luận dựa trên nguyên lý vị nhân đã hoàn toàn mâu thuẫn với lập luận hữu thần cổ điển khi cho rằng vũ trụ rất thuận với sự sống con người nên vũ trụ đã không cần tiến hóa tự nhiên, vì Thượng đế đã tạo dựng như vậy ngay từ thủa ban đầu; trong khi lập luận cổ điển về một Thượng đế thiết kế vũ trụ (argument from design) lại cho rằng vũ trụ rất nghịch với sự sống con người, và vì vũ trụ không tiến hóa theo cách tự nhiên, do đó, cần phải có những quyền lực siêu nhiên của Thượng đế tác động. Cả hai lập luận vị nhân đều cố gắng bác bỏ thuyết tiến hóa khoa học của Charles Darwin. Chúng ta đang sống trong vũ trụ hiện tại nên chúng ta thường hay chấp nhận vũ trụ có những đặc tính hợp với sự sống của chúng ta. Thực ra, mọi sự sống đều đang tiến hóa để phù hợp và thích ứng với môi trường chung quanh. Thí dụ như đôi mắt con người được tiến hóa để chỉ nhìn thấy trong khoảng từ mầu đỏ tới mầu tím (light spectrum) vì bầu khí quyển thì trong suốt trong khoảng này. Những người lý luận theo nguyên lý vị nhân thì lại cho rằng bầu khí quyển được Thượng đế tạo dựng như vậy là vì con người để giúp con người nhìn thấy. Thuyết tiến hóa khẳng định rằng mọi sinh vật đều tiến hóa theo vũ trụ, chứ không phải vũ trụ tiến hóa theo con người để phục vụ sự sống con người. Điều khẳng định này thì phù hợp với những quan sát thông thường của chúng ta và ngay cả trong phòng thí nghiệm. Vậy con người không phải là tâm điểm của vũ trụ. Vũ trụ thì vô tình, chẳng màng gì đến phúc lợi của con người. Con người nương theo vũ trụ để sống, chứ vũ trụ không nương theo con người để tồn tại và phục vụ cho phúc lợi của con người. Điều rõ ràng nhất là vẫn có những thiên tai lạnh lùng xảy đến cho nhân loại ở mọi nơi và ở mọi thời đại, mặc dù đã có lời cầu xin của hàng tỉ linh hồn từ khi con người biết sáng tạo ra Thượng đế. Con người chính là thần của các thần, và phật của các phật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>May rủi và những điều bí ẩn </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mặc dù có rất nhiều điều khoa học chưa giải thích được, nhưng chắc chắn những điều may rủi cũng phải tuân theo những định luật khoa học nào đó. Những điều chưa giải thích không có nghĩa là sẽ chẳng bao giờ được giải thích. Sự may rủi không hàm ý những quyền lực siêu nhiên. Thí dụ như khi tôi ném một hòn đá ra xa rồi rơi trên một cọng cỏ. Chẳng có gì để khâm phục việc tại sao hòn đá lại rơi trúng cọng cỏ đó mà không trúng cọng cỏ khác. Tính xác suất không cho ta một giải đáp chắc chắn, chính xác, nhưng chẳng có nhà khoa học nào lại tin có một quyền lực siêu nhiên bắt hòn đá phải rơi trúng cọng cỏ đó. Mọi việc xảy ra đều tuân theo những định luật khoa học mà con người cần khám phá. Đó là một thách đố lớn cho con người. Chẳng có Thượng đế nào làm phép lạ bắt sự việc phải nghịch lại với những định luật của thiên nhiên. Nếu bạn bịt mắt, xoay vài ba vòng rồi mới liệng hòn đá ra xa vài trăm thước, và nếu hòn đá đó rớt trúng cọng cỏ mà bạn đã nói trước, thì chúng ta mới có thể khâm phục cho đó là một điều kỳ diệu. Luôn luôn ta có thể nói được rằng hòn đá đó không rớt trúng cọng này thì cũng trúng cọng khác dựa trên sự may rủi hoàn toàn tự nhiên và khoa học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đã có biết bao nhiêu điều lạ được ghi nhận từ cổ chí kim, nhưng chưa bao giờ có điều lạ nào được trình bày đạt tiêu chuẩn khách quan khoa học. Khi sự việc được khoa học điều tra, xem xét, tra cứu bằng những phương pháp khoa học, thì kết quả đều cho thấy hoặc có sự dối trá, trục lợi, lầm lẫn ảo giác hay ảo tưởng… Với phương tiện truyền thông điện tử và khoa học hiện đại, người ta sẽ chẳng còn thấy một phép lạ nào xảy ra nữa. Lịch sử cho biết đã có rất nhiều đạo sĩ hiến cả đời mình để tìm chân lý và đã đạt giác ngộ, nhưng cho đến nay vẫn chưa có đạo sĩ nào biết rõ ràng nguồn gốc vũ trụ và sự sống con người. Vậy các vị đạo sĩ đó “ngộ” được điều gì thì không ai biết và cũng chẳng có một ai kiểm chứng. Kinh thánh chứa đầy sự khôn ngoan, nhưng đồng thời cũng đầy mâu thuẫn, phản khoa học, và nhất là có nhiều đoạn cổ võ cho sự tàn ác và chiến tranh. Mỹ quốc hiện đang có rất nhiều nhà tiên tri có môn bài hoạt động, nhưng chẳng có một vị tiên tri nào đoán trước được vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Bây giờ thì người ta lại thấy xuất hiện một vài bài viết bàn về những điều tiên tri liên quan tới vụ khủng bố đó. Điều khôi hài là tại sao chúng ta đã không bàn về những điều được tiên tri trước khi những điều đó xảy ra? Những điều tiên tri đúng trong Kinh thánh được viết sau khi sự việc đã xảy ra, còn những điều tiên tri sẽ xảy ra thì đã không xảy ra rồi mà không ai muốn nhắc đến.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Kết luận </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta đã được chứng kiến những nổ lực vô vọng của các nhà hữu thần trong việc đi tìm một định nghĩa mới cho Thượng đế để phù hợp với những khám phá mới của khoa học, mặc dù phải hy sinh những bản tính rất căn bản và đầy mâu thuẫn của Thượng đế trong giáo lý của những tôn giáo độc thần mà chúng ta một thời đã được dạy, chẳng hạn như bản tính Thượng đế như một hữu thể có ý chí, tự do, tự sinh, toàn tri, toàn thiện, toàn năng; và bây giờ thì chúng ta lại đang chứng kiến những lập luận hoàn toàn mâu thuẫn của họ trong việc chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế. Khoa học và tôn giáo là hai lãnh vực luôn đối kháng. Khoa học càng tiến xa hơn thì tôn giáo càng phải cúi đầu. Đó là lý do tại sao tôn giáo thường hay nhân danh đạo đức và luân lý để phản đối &#8211; nếu không muốn nói là trù dập, bắt bớ, thủ tiêu, xử tử, ngược đãi, bạo hành… &#8211; những cố gắng của khoa học trong suốt đường dài lịch sử nhân loại; mặc dù vấn đề đạo đức hay luân lý thì chủ quan, mang nặng cảm tính, hoàn toàn tùy thuộc vào sự ham muốn của một cá nhân hay một phe nhóm. Khả năng và sự ích lợi của khoa học thì đã quá rõ ràng. Vị linh mục an ủi bệnh nhân, nhưng bác sĩ mới chính là người cứu bệnh nhân. Khi một con bệnh mà bác sĩ đã bó tay, hết thuốc chữa, thì những lời cầu nguyện, chúc phúc hay ban phép lành của một linh mục sẽ không làm thay đổi kết quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tóm lại, vấn đề Thượng đế lúc nào cũng chỉ là vấn đề đức tin, hoàn toàn không phải là vấn đề của khoa học; mà đức tin hay lương tâm thì có thể được huấn luyện để chấp nhận những gì nhà giáo dục muốn. Đức tin không phải đến từ Thượng đế như trong giáo lý của Kitô giáo chỉ dạy. Đó là kết quả của giáo dục, mà lối giáo dục “vâng lời trọng hơn của lễ” khó làm chúng ta vùng thoát tình trạng vị thành niên để tiến xa hơn. “Cây gậy và củ cà rốt” vẫn đang là những khống chế có hiệu quả làm con người không dám tự sử dụng trí tuệ của chính mình để khai sáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Trong phần này, tác giả lấy ý chính từ bài “Does Cosmos Show Evidence of Purpose” của giáo sư vật lý Victor J. Stenger, đăng trong đặc san Skeptical Enquirer, Vol 23, No. 4, tháng 7/8 năm 1999.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><em>Thích Bình Thường</em><strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Thượng đế, ngài là ai?</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vấn đề Thượng đế là vấn đề muôn thủa đã được bàn từ khi con người biết sống hợp quần thành xã hội. Mặc dù cho đến nay vấn đề vẫn chưa được kết thúc vì mỗi người mỗi ý, nhưng nó vẫn chi phối gần như toàn bộ những sinh hoạt của con người xưa nay. Người ta có thể chấp nhận chết rất dễ dàng vì niềm tin của mình nhưng hầu như chúng ta chưa được thấy có cha mẹ nào chịu chết thay cho con cái. Vì tầm quan trọng của vấn đề, tôi xin được góp ý cùng những quí vị hành giả đã mấy tháng qua cùng tôi nhọc nhằn đi tìm chân lý, dù chân lý mới chỉ ló rạng được một phần rất nhỏ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">1. Sau khi đọc bài “Tại sao tôi là con chiên của Chúa” của tác giả Đỗ Xuân Phương (ĐXP), tôi nhận thấy có một vài điểm cần làm sáng tỏ hơn để mọi người nhận định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tác giả đã trích dẫn lời Phật Thích Ca cho rằng câu hỏi về “nguyên nhân đầu tiên” là một câu hỏi sai nên không có câu trả lời. Tôi cho rằng không bao giờ có câu hỏi sai, mà chỉ có câu trả lời sai. Một câu hỏi mà không có câu trả lời hợp lý không có nghĩa câu hỏi đó sai. Đồng ý rằng có những trường hợp câu hỏi không được trình bày rõ ràng dễ hiểu, thì trong trường hợp đó người ta sẽ đặt lại câu hỏi cho rõ ràng dễ hiểu hơn. Trường hợp câu hỏi ở đây mà một đứa trẻ thường hay hỏi “vậy ai sinh ra Thượng đế?” là một câu hỏi quá rõ ràng dễ hiểu, hoàn toàn hợp lý luận và rất triết lý nữa là đàng khác. Nếu không thể trả lời thì chỉ cần nói đơn giản rằng “tôi không biết” là đủ. Không có ai khó tính đến nổi ép buộc tác giả phải cho lời giải đáp khi tác giả không biết. Vậy xin hỏi tác giả câu hỏi đó sai chỗ nào? Và phải sửa thế nào để câu hỏi đó mới đúng?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Bất cứ một dòng tư tưởng triết lý nào cũng có một lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ và con người. Riêng trong giáo lý Phật giáo, chúng ta không thể tìm được một giải thích nào rõ ràng hơn. Khi bị chất vấn về những vấn đề siêu hình như “vũ trụ vô hạn hay hữu hạn về cả thời gian lẫn không gian? Cái ta đây bởi đâu mà đến, để làm gì và sẽ đi về đâu? Có linh hồn không, hay chỉ có tứ đại ngũ uẩn họp thành hình hài này?” thì đức Thích Tôn chỉ lẩn tránh và trả lời rằng “Ta chỉ nói với các ông về đạo diệt khổ, còn những gì phù phiếm ta không nói đâu.” [1] Tìm hiểu thêm trong triết lý đạo Phật thì chúng ta được biết rằng quan niệm “vô thủy vô chung” trong Phật giáo hàm ý vũ trụ không có một điểm khởi đầu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">2. Trong bài “Đức tin vào Thượng đế của nhà vật lý”, tác giả ĐXP nêu danh giáo sư Trịnh Xuân Thảo, còn “Một bạn đọc” trong mục “Thư độc giả ngày 17.3.2005” cũng nêu danh hai nhân vật khoa học tên tuổi Newton và Einstein, để bênh vực cho hữu thần luận mà không trình bày cho độc giả biết những lý luận của họ. Thực ra, khoa học và triết lý là hai địa hạt hoàn toàn khác nhau. Vậy một nhà khoa học có uy tín chưa chắc đã là một triết gia hay thần học gia có những lý luận thuyết phục. Uy tín, sự quan trọng hay có số đông người tin theo cũng không làm tăng thêm giá trị cho lập luận. Lập luận có thuyết phục hay không là do chính lập luận có vững chắc, logic và có bằng chứng cụ thể để hỗ trợ hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tôi không biết giáo sư Trịnh Xuân Thảo, nhưng tôi biết nhà khoa học Albert Einstein đã từng công khai tuyên bố ông là người theo chủ nghĩa nhân bản (Humanism), một chủ nghĩa hoàn toàn bác bỏ thuyết sáng tạo. Họ tin chỉ có một cuộc sống hiện tại nên cứu cánh cuộc đời là hạnh phúc khi còn sống. Họ không đi tìm sự cứu rỗi ở đời sau vì họ không tin con người còn có phần linh hồn bất tử. Khẩu hiệu của họ là “cuộc đời này là tất cả và đủ rồi” (this life is all and enough). Albert Einstein (1879-1955) đã tóm tắt quan niệm rất nhân bản của ông như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Trong thời đại tiến hóa tinh thần của con người lúc ban sơ, trí hoang tưởng của con người đã sáng tạo ra thần thánh theo hình ảnh của họ, để thần thánh ảnh hưởng ít nhiều hay hoàn toàn quyết định vào thế giới hiện tượng qua ý muốn của họ. Ý tưởng về Thượng đế được dạy trong các tôn giáo hiện nay là sự thăng hoa quan niệm thần thánh cổ hủ đó. Chẳng hạn, tính nhân cách hóa đó được nhìn thấy trong sự kiện con người cầu xin sinh vật Thượng đế rồi lại cố gắng theo đuổi để đạt cho được điều mình ước mong. Trong tiến trình tranh đấu tiến đến đạo đức, những thày dạy giáo lý tôn giáo phải từ bỏ giáo lý về một Thượng đế cá nhân, nghĩa là từ bỏ nguồn gốc sợ hãi và hy vọng mà trong quá khứ đã đặt quyền lực quá rộng lớn trong tay những ông linh mục.” [2]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Còn Isaac Newton (1642-1727) thì lý do duy nhất ông tin vào thuyết sáng tạo vì ở thời điểm đó ông không thể giải thích nổi những điều bất thường về chuyển động của các vì sao và các sao chổi. Mặc dù vậy, ông không bao giờ tin việc Thượng đế xen vào tiến trình tiến hóa của vũ trụ. Thượng đế tạo dựng vũ trụ rồi để vũ trụ tự động tiến hóa theo những định luật khoa học tự nhiên. Những điều bất thường đó ngày nay đã được các nhà toán học và khoa học vũ trụ giải thích rất rõ ràng rồi. Nhà toán học vĩ đại Johannes Kepler (1571-1630), một trong những khoa học gia đặt nền móng cho khoa học vũ trụ hiện đại, lại tin vào chiêm tinh bói toán và thờ phượng mặt trời. [3] Điều đó cho thấy uy tín của họ không nhất thiết làm tăng giá trị cho lập luận của họ ở lãnh vực mà họ không có chuyên môn. Mà dù họ có chuyên môn đi chăng nữa, những lập luận của họ vẫn phải được duyệt xét theo phương pháp khoa học như bất cứ lập luận nào của một ai khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lời kệ của đức Thích Tôn được ghi lại trong kinh Tăng Nhất Tập chứa đựng một chân lý mà cho đến nay không có một ai có thể phản bác ở bất cứ điểm nào:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Đừng tin điều gì do kinh sách.<br />
Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền.<br />
Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại.<br />
Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhân.<br />
Đừng tin điều gì do người ta tưởng tượng ra rồi gán cho thần phật nói.<br />
Đừng tin điều gì vì uy tín của thày dạy<br />
Nhưng hãy tin vào điều các con đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho các con và kẻ khác.<br />
Lòng tin ấy sẽ thăng hoa đời con, và các con hãy lấy đó làm tiêu chuẩn.” [4]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đó mới là ý nghĩa chính đáng của việc “phải vứt bỏ những trói buộc của ngôn từ khái niệm” mà tác giả ĐXP đã đi một bước trệch hướng 180 độ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">3. Tôi không đồng ý với ông Hoàng Ngọc viết trong “Thư độc giả ngày 2.4.2005” khi ông cho rằng người không tin gì cả có thể làm bất cứ điều gì dù là gian ác cách mấy vì họ không còn sợ ai trừng phạt. Tại sao ta lại phải làm điều gian ác nếu ta không tin có một Thượng đế đang chờ phạt? Học thuyết nhân bản (Humanism) lấy hạnh phúc con người làm cứu cánh. Nếu hạnh phúc con người còn tùy thuộc vào hạnh phúc của đồng loại thì tại sao chúng ta phải làm điều ác cho nhau? Chúng ta có thể hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn khi những người bên cạnh sống bất hạnh sao? Hơn nữa, có rất nhiều người gian ác hay phạm pháp có đức tin tôn giáo. Lịch sử thế giới cho chúng ta biết đã có biết bao cuộc thánh chiến. Những người khủng bố ôm bom nổ đều có đức tin vào một Thượng đế và sự thưởng phạt ở đời sau. Những bắt bớ, ngược đãi, bạo hành các nhà thần học, triết gia, nhà văn không cùng quan điểm; những thủ tiêu, xử tử, đốt sống những khoa học gia mà người ta gán cho là phù thủy, tất cả chỉ vì lý do tôn giáo. Bình thường chúng ta không thấy có sự liên hệ nào đến niềm tin tôn giáo khi con người làm điều gian ác, nhưng có điều chúng ta biết chắc chắn rằng một khi con người nhân danh tôn giáo để làm thì mức độ tàn ác sẽ vô lường. Tôn giáo có ích hay có hại cho con người cũng là đề tài còn đang bàn cãi, chưa đóng khép. Do đó, talawas còn đang tốn nhiều gigabit để cho chúng ta góp ý. Có lẽ cũng đã đến lúc chúng ta cùng đổi sang đề tài này. Đó là lý do tại sao talawas có một mục riêng cho các vấn đề tôn giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">4. Trong bài “Karol Wojtyla với tác phẩm Đạo đức học sơ yếu”, ông Phạm Vĩnh Cư viết: “Nếu thiếu công bằng cộng với thiếu hiểu biết thì những người không theo đạo này, mỗi khi nói đến nó, dễ chỉ nhắc đi nhắc lại một số lỗi lầm lịch sử của nó, mà chính nó đã công khai thừa nhận và chối bỏ, và theo những định kiến hẹp hòi và cũ kĩ sẽ tiếp tục nhìn thấy ở nó chỉ một tàn dư đáng bực mình của “đêm trường trung cổ”. Nếu chỉ đọc sơ qua thì chúng ta thấy ý tứ hoàn toàn hữu lý. Tuy nhiên nếu xét cho kỹ càng hơn thì sự việc không đơn giản như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một trong những bổn phận chính yếu của người Kitô giáo là bổn phận tông đồ trong đời sống tạm bợ cõi trần, chuẩn bị cho một đời sống vĩnh cữu sau khi chết. Nói nôm na hơn thì bổn phận đó là bành trướng đạo đến những người khác. Phần thưởng thiêng liêng cho người có công trạng không phải là nhỏ. Bởi vậy, họ có một chương trình hành động được hỗ trợ bằng những thế lực rất mạnh và những nguồn tài chánh rất dồi dào. Có một linh mục kia mạnh bạo tuyên bố trên tòa giảng rằng &#8220;tôi có một Chúa để tôn thờ. Tôi thà vâng lời Chúa của tôi hơn là vâng lời người thế gian.&#8221; Đó là lời tuyên bố nghe rất hữu lý, hoàn toàn phù hợp với giáo lý của họ và có sức mạnh kích thích con người bất tuân luật pháp để sẵn sàng chết cho đạo. Cách đây vài tháng ở bên Mỹ, có một nhóm người kiện bộ giáo dục vì chưa triệt để áp dụng nguyên tắc tôn giáo phải tách rời khỏi chính quyền để đòi bỏ thuyết sáng tạo hoàn toàn ra khỏi học đường. Những người Kitô giáo đã biểu tình chống đối phán quyết của tòa, xách động dân bằng khẩu hiệu &#8220;cách đây 2000 năm, Chúa đã chết để cứu chuộc chúng ta, vậy tại sao ngày nay chúng ta không thể chết cho Ngài?&#8221; Điều rõ ràng là ngày nay đang có rất nhiều quốc gia có những luật lệ đối nghịch với tín lý Kitô giáo, chẳng hạn như luật cho phép phá thai, ly dị, hôn phối đồng tính, nghiên cứu tế bào phôi (stem cells), quyền được chết&#8230; Nếu tín đồ nào cũng đặt tín điều của tôn giáo mình trên luật lệ quốc gia thì điều gì sẽ xảy ra? Tôi nghĩ sẽ rất dễ dàng dẫn đến chiến tranh nếu không có ý thức thượng tôn pháp luật, hoặc ít nhất thì tập thể quốc gia ấy cũng mất ít nhiều sự đoàn kết, một yếu tố quyết định để phát triễn và mang phúc lợi cho mọi công dân. Sinh hoạt chính trị ở Hoa Kỳ mang mầu sắc tôn giáo trong mấy tuần qua liên hệ tới quyền được chết của một người bệnh để giảm bớt đau khổ (vụ Terry Schiavo) đang là những nguy cơ phá hoại sự đoàn kết. Và trong cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2004, một vài giám mục và linh mục đã công khai tuyên bố sẽ không cho ứng viên đảng dân chủ John Kerry rước lễ và còn nói đến vạ tuyệt thông vì ông này ủng hộ luật cho phép phá thai. Lạm dụng niềm tin tôn giáo để làm áp lực chính trị tìm lợi thế phe nhóm thì rất phổ biến ở nhiều quốc gia. Nguyên tắc giáo quyền phải tách rời khỏi chính quyền đã được hiến pháp Hoa Kỳ khẳng định nhưng lúc nào giáo quyền cũng tìm cách ảnh hưởng hoặc chi phối chính quyền bằng mọi cách.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trong bối cảnh sinh hoạt chính trị và xã hội như thế, “những lỗi lầm lịch sử” vẫn rất có thể được tái diễn dưới một hình thức mới mẻ hơn, vì hoàn cảnh xã hội, cơ cấu tổ chức chính trị đã thay đổi; và vì trình độ tri thức con người không còn ấu trĩ, dễ sai bảo như ở thời trung cổ. Vấn đề nằm tại một giáo lý căn bản chủ trương bành trướng theo cấp số nhân được đảm bảo bằng phần thưởng thiên đàng ảo tưởng quá hấp dẫn khiến tín đồ không chịu an phận với niềm tin vô lý của họ, mà lại hăng hái cố gắng thiết lập những luật lệ phù hợp với tín lý đạo giáo để áp đặt lên đầu lên cổ những người khác. Nếu chúng ta nhìn vấn đề dưới góc cạnh đại thể qui mô như vậy thì việc “ôn cố tri tân” cũng là việc nên làm để tránh những lỗi lầm lịch sử dưới hình thức mới, chứ không nên vội lên án cho đó là “những định kiến hẹp hòi, cũ kĩ” hay “thiếu công bằng, thiếu hiểu biết”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Phan Thiết, Hành hương đất Phật, Ký sự, Chương 4, Đạo lý của Phật Thích Ca, trang 110, Southern Stars Publisher, Australia.<br />
[2]Corliss Lamont, Humanism, trang 140, Eight Edition, Revised. Half Moon Foundation, Amherst, NY 14226<br />
[3]Corliss Lamont, Humanism, trang 141, Eight Edition, Revised. Half Moon Foundation, Amherst, NY 14226<br />
[4]Phan Thiết, Hành hương đất Phật, Ký sự, Chương 1, Vô tự chân kinh, trang 31, Southern Stars Publisher, Australia.</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Gianni Vattimo<strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Chúa không can dự đâu!</span></strong><br />
<em>Vũ Ngọc Thăng dịch</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có thực chúng ta đang sống trong một dự báo về Tận thế? Chí ít là theo nghĩa từ nguyên của từ này, cái mang lại ý nghĩa “khải huyền” cho thuật ngữ, với nhiều tính cách đại họa kết nối thêm (người ta luôn cảm thấy dễ chịu với những ảo tưởng; còn với sự thật, bạn biết đấy, nó khiến ta đau), Tận thế đang đến với chúng ta. Và dẫu rằng phần lớn sự tổn thất do sóng thần, một lần nữa, không tùy thuộc vào thiên nhiên mà tùy thuộc vào lịch sử, vào kinh tế, vào tính cách thống trị (những vùng bị tàn phá không có một hệ thống cảnh báo; bởi vì nó quá tốn kém), tầm kích của thảm họa thôi thúc những suy xét bớt tình cờ hơn. Chúng ta nhận ra rằng, với toàn bộ kĩ thuật hiện có, thiên nhiên tiếp tục vận hành theo những phương thức có thể hủy diệt những dự án và sinh mạng của chúng ta trong khoảnh khắc. Thế thì, có phải đúng là chúng ta chỉ có thể rút ra những kết luận thông lệ về thân phận mỏng manh của con người, về sự chối bỏ cái tính cách ngạo mạn khiến con người hiện đại tin rằng mình có thể thay cho thánh thần? Một phương châm suy tư như thế, hoàn toàn và giản dị, lại sa vào sự mê tín. Đồng nhất Chúa với một thiên nhiên không thể dự đoán và một thiên nhiên thù địch, là sự báng bổ vĩ đại, cái mà thậm chí nhiều tín đồ đắm mình vào một cách hoàn toàn thiện ý: đấy là ý Chúa, biểu cảm của các tín đồ ấy khi họ hứng chịu một sự bất hạnh, chứ không phải lúc họ trúng số. Thế thì, làm ơn, đừng than vãn về cái sự hữu hạn của con người và cái sự kiêu căng quá đỗi của họ. Tốt hơn, hãy nghĩ là người ta có thể, trong tương lai, tránh được việc lặp lại những sự cố tương tự khi mà người ta, cuối cùng, thiết lập những cơ chế, qua chi cấp của cộng đồng quốc tế (cả những du khách phương Tây cũng được bảo vệ!), những hệ thống cảnh báo, mà một cách bi thảm, hôm nay không có. Không có cái ác tuyệt đối, có cái ác mà chúng ta không có khả năng dự phòng, hoặc một cách có lỗi, đã dọn đường. Có lẽ vấn đề không phải là mối đe dọa của lũ lụt, mà là, một lần nữa, cái phần phía Nam của chúng ta, cũng như những hòn đảo và những bãi biển nhiệt đới, những nơi mà sự đầu cơ địa ốc và sự chểnh mảng công quyền, đã có phần của chúng. Thế rồi: không nên đắm chìm trong một nỗi than vãn bi kịch, mà đặc biệt, dường như là khuynh hướng văn hóa chung, được bồi dưỡng với những lời rao giảng về sự đánh mất các “Giá trị”, với những lời răn đe về sự kết thúc của văn minh, vốn trĩu nặng chúng ta qua việc thao tác di truyền học, qua việc biến đổi gien sinh vật, qua một thứ chủ nghĩa hư vô lan tràn (theo nghĩa debole/leggerezza/nhẹ tênh của Vattimo). Những Hiệp sĩ Templar và những huyền thọai của các vị ấy cũng là một mảnh đất màu mỡ: bạn có để ý là, gần đây, có bao nhiêu đạo diễn “nghiêm túc” đã thực hiện những cuốn phim theo kiểu The Ninth Gate của Polanski hoặc Eyes Wide Shut của Kubrick không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chắc chắn rằng, những mối đe dọa “toàn cầu” đang trĩu nặng chúng ta, và tâm trí tập thể cảm nhận những mối đe dọa ấy qua một cung cách đặc biệt gay gắt. Cả đến sự cả tin của ai đó đã hớp những quả bong bóng của Bush và Blair về những thứ vũ khí hủy diệt số đông, cũng được nuôi dưỡng bởi những nỗi ngóng chờ mờ mịt có tính cách tận thế này. Rằng đây phiên bản ý niệm mácxít “thuốc-phiện-của-quần-chúng” được cập nhật hóa. Ngược lại, giá mà, với chút lí trí lành mạnh đơn sơ, người ta bắt đầu suy ngẫm về ý nghĩa của thảm họa toàn cầu vừa xảy ra, thì người ta, cuối cùng, có thể rút ra những bài học, mà dẫu có thế nào đi nữa, Bush và nhiều chính phủ cũng không muốn hiểu: rằng cơn sóng không bình thường ở vùng Nam Á chỉ là một mẫu nhỏ cho trường hợp có thể sẽ xảy ra của hành tinh này, nếu chúng ta không màng đến việc cứu chữa, bắt đầu từ nghị định thư Kyoto và từ một ý thức chính trị sinh thái nghiêm túc. Có thể rồi không lâu nữa, chúng ta sẽ phải đứng trước một tình cảnh tất cả bị tràn ngập trong một cơn sóng thần toàn cầu, trong một cơn đại họa “khải huyền”, thì lúc ấy, đúng là đã quá muộn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">Gianni Vattimo (1936) là một trong những triết gia Ý đương đại nổi bật nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguồn:</strong> Il Manifesto, 29/12/2004<a href="http://www.ilmanifesto.it/Quotidiano-archivio/29-Dicembre-2004/art7.html"><span style="color: #000000;"></p>
<p>http://www.ilmanifesto.it/Quotidiano-archivio/29-Dicembre-2004/art7.html</span></a></span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">David B. Hart<strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Những chấn động của hồ nghi</span></strong><br />
<em>Lê Trần Huy Phú dịch và chú thích</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngày 1 tháng 11 năm 1755, một trận động đất lớn ngoài khơi Lisbon. Chỉ riêng thành phố này, vào khoảng 60.000 người đã chết. Đầu tiên là do những chấn động, rồi đến cơn sóng thần khổng lồ ập đến sau nửa giờ. Lửa thiêu rụi hầu hết những gì còn lại của thành phố. Những cơn sóng thần cũng trải dài chết chóc dọc bờ biển Iberia và Bắc Phi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Poëme sur le désastre de Lisbonne [1] của Voltaire viết vào năm sau là một chỉ trích độc địa – dù nghiêm chỉnh – tấn công vào biện thần luận [2] thịnh hành vào thời của ông. Đối với những người lập luận rằng “mọi thứ đều tốt”, “mọi thứ đều cần thiết”, rằng vũ trụ này là một sự hài hòa tinh tế giữa nỗi đau và niềm vui, rằng đó là cái tốt nhất cho mọi thế giới khả dĩ tồn tại; Voltaire thể hiện một sự khinh miệt vô hạn: bằng những tính toán gì về sự an lành vũ trụ mà người ta có thể tìm ra giá trị nơi “những đứa bé (đói khát) nhai nát bầu vú mẹ”, nơi sự chết lặng của “những cư dân buồn bã tại các vùng biển tan hoang”, nơi chỉ toàn là “những hỗn loạn chí tử của những con người cùng cực”?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có lẽ lý lẽ khuấy động nhất chống lại sự phục tùng “ý chí của Chúa” trong những khổ đau con người – đặc biệt khổ đau của trẻ em – đã được đặt vào miệng Ivan Karamazov của Dostoyevsky. Nhưng những cái ác Ivan liệt kê ra toàn là những hành động tàn bạo của con người. Thiên tai thường dường như là một thách thức lớn đối với đức tin vào một Thượng đế công bằng và từ tâm, hơn là thách thức từ những khổ đau xui khiến bởi tội lỗi con người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dù vậy, xem xét một cách bình thản, con người là một phần của trật tự tự nhiên, và thiên hướng hiểm độc của họ không ít hơn một scandal đối với lương tâm của người lạc quan siêu hình, so với những chấn động hung tợn nhất của thế giới vật lý. Câu hỏi đã cổ xưa nhưng lại đúng lúc với những kinh hoàng của lịch sử và tự nhiên: do đâu mà tai ương lại đến? Và như Voltaire đã để lửng một cách lịch sự, thật vô dụng để viện dẫn sự cân bằng của một chuỗi tồn tại to tát, vì chuỗi đó được bàn tay Thượng đế nắm giữ, nhưng Người không xâu nó lại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Là người Thiên chúa giáo, tôi không thể hình dung ra bất kỳ lời đáp nào cho câu hỏi về tai ương có thể thỏa mãn những người không đức tin. Dù vậy, tôi có thể lưu ý rằng, với tất cả tính cấp bách của nó, cách nhìn của Voltaire về vấn đề này không phải là chính xác trong ý nghĩa “thần học”. Thượng đế trong thơ của Voltaire là một loại Thượng đế “hữu thần” cụ thể, người định dạng và lập trật tự thế giới như thế giới đó hiện là, phù hợp với những ý định chính xác của Ngài, và là người chủ trì mọi tình huống khổ hạnh trước sự thăng bằng chính xác giữa hạnh phúc và đạo đức. Không phải mọi người Thiên chúa giáo đều thường nói như vậy, nhưng đó (thật ra) không phải là Thượng đế Thiên chúa giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhận thức Thiên chúa giáo (đích thực) về tai ương thường triệt để và khác thường hơn bất kỳ nhà hữu thần luận nào, vì nó phủ nhận ngay từ đầu bất kỳ ý nghĩa tối thượng nào ở khổ đau, cái chết và tai ương. Có lẽ không học thuyết nào thần thoại đến mức không thể chịu được đối với những người ngoại đạo hơn là cái khẳng định rằng chúng ta sống trong sự sầu muộn dài lâu, hệ quả của tai biến ban sơ, rằng đó là một thế giới đổ vỡ và thương tổn, rằng thời khắc vũ trụ là hình bóng của thời gian thật, và rằng vũ trụ tiều tụy trong trạng thái nô lệ trước những “quyền lực” và “lãnh địa” – tâm linh và trần thế – xa lạ đối với Thượng đế. Đặc biệt, trong Phúc âm của John [3] , Thượng đế nhục thể bước vào thế giới cùng lúc của riêng Ngài và thù nghịch với Ngài – “Ngài đã ở trong thế giới, thế giới được Ngài tạo nên, và thế giới đã không biết Ngài” – và hiện diện của Ngài trong “vũ trụ này” là hành động phán xét, và cả cứu rỗi của cái đẹp tạo tác khỏi những đau khổ của thiên nhiên tàn tạ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Mọi thứ mà người ta làm nên câu chuyện này, nó không phải là sự lạc quan vũ trụ nhạt nhẽo. Vâng, tại tâm điểm của phúc âm là một khúc khải hoàn không thể tẩy trừ, một niềm tin chiến thắng trên tai ương, điều ác và cái chết; nhưng nó cũng là một chiến thắng còn phải đi tới. Như Paul nói, mọi tạo vật rên rỉ trong dè chừng khổ đau về ngày mà hào quang của Chúa sẽ làm thay đổi mọi thứ. Vì hiện chúng ta sống giữa nơi xung đột của bóng tối và ánh sáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Khi phải đối mặt với sự khắc nghiệt mênh mông của khổ đau khắp thế giới – khi chúng ta thấy toàn bộ vành đai duyên hải Ấn Độ Dương rải hàng chục ngàn xác người mà một phần ba là trẻ em – không một người Thiên chúa giáo nào được phép thốt ra những lời đáng tởm về những chỉ bảo bí hiểm của Thượng đế, hay những ý kiến bổ báng rằng tất cả sự thần bí này phụng sự cho những mục đích tốt đẹp của Chúa [4]. Chúng ta chỉ được cho phép căm giận sự chết chóc, tàn phá, và những lực may rủi ngu độn đã phá hủy những linh hồn sống, để tin rằng tạo vật sống trong cơn đau cực độ nơi những xiềng xích của nó, để thấy rằng thế giới như được phân chia giữa hai vương quốc – sự hiểu biết rằng ở mọi thời đại, chỉ lòng nhân từ là có thể giúp ta chống lại “định mệnh”, và rằng chúng ta phải làm điều đó, cho đến ngày tận thế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;"><em>David B. Hart, nhà thần học Chính thống giáo Đông Âu, là tác giả của Cái đẹp của thực thể Vô hạn (The Beauty of the Infinite). </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Tạm dịch: Thơ về thảm họa của Lisbon.<br />
[2]Biện thần luận: nhánh thần học bảo vệ cho cái thiện và sự công bằng của Chúa trước vấn đề về sự tồn tại cái ác và những tai ương.<br />
[3]Ý nói Giáo hoàng John Paul II.<br />
[4]Đọc những dòng này tôi liên hệ đến một mẩu tin: một giáo sĩ Hồi giáo hàng đầu tại Arab Saudi, Sheik Fawzan Al-Fawzan, mới đây vừa tuyên bố rằng thảm họa tại Nam Á vừa rồi, cho dù trong đó có vùng người Hồi giáo phải gánh chịu, là do sự trừng phạt của Allah đối với những nước này vì đã cho phép đối với… gay! Năm rồi, một vị lãnh đạo tại một nước Châu Á cũng nhận định rằng AIDS là sự trừng phạt của Chúa đối với… đồng tính luyến ái! Những phát ngôn như vậy khiến người ta vừa buồn cười vì sự thiếu hiểu biết đến không thể tưởng tượng, nhưng cũng giật mình kinh hãi mà nhận ra rằng định kiến kết hợp với niềm tin mù quáng khiến con người ta tàn độc đến mức nào, khi mà trong những thời khắc đại nạn, đại dịch của nhân loại họ vẫn bình thản thốt ra những lời phi nhân như vậy, cốt chỉ để tròng vào cổ đối tượng định kiến của mình một “đại tội”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguồn:</strong> <a href="http://www.opinionjournal.com/taste/?id=110006097"><span style="color: #000000;">http://www.opinionjournal.com/taste/?id=110006097</span></a></span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">***</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Edward Spence<strong><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">Những cơn sóng hủy diệt cuốn đi niềm</span><br />
<span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif;">tin vào sự nhân từ của Thượng đế</span></strong><br />
<em>Lê Trần Huy Phú dịch và chú thích</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">“Tại sai Ngài lại làm điều đó với chúng tôi, hỡi Thượng đế? Chúng tôi đã làm gì khiến Ngài phật lòng?”, một phụ nữ Ấn đã thốt lên như thế vào tuần này; và đó là câu hỏi nhói lòng được những người Hồi giáo, Phật giáo, Ấn giáo, và Thiên chúa giáo nêu lên trong ít ngày vừa qua. Không gì có thể chuẩn bị cho chúng ta trước những gì diễn ra khi sóng thần gieo rắc sự kinh hoàng của nó. Vì thế ta tìm sự trả lời ở nơi mà câu trả khó có được, cả ở vương quốc thế tục và vương quốc thần thánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thượng đế theo truyền thống Thiên chúa -Do Thái được xem như tồn tại tối cao và hoàn hảo nhất trong vũ trụ, được gán cho những thuộc tính tất yếu như: toàn thông (biết hết tất cả), toàn vũ (hiện diện ở mọi nơi, vào mọi lúc, và ngay tức thì), toàn năng (quyền năng vô hạn), và nhân từ (toàn thiện và chăm lo).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy thì, sao Thượng đế đầy quyền năng và nhân từ đến như thế lại để cho sự kiện như vậy xảy ra? Nếu Ngài nhân từ thì Ngài không thể cũng toàn năng, vì Thượng đế mà có cả hai thuộc tính này thì ắt là sẽ muốn, sẽ quan tâm, và cũng sẽ có khả năng để ngăn chặn một thảm họa như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Hoặc có lẽ dù toàn năng, Ngài lại không nhân từ. Điều đó có thể giải thích tại sao, dù việc bắt sóng thần dừng lại là thuộc quyền năng của mình nhưng Ngài đơn giản lại không chọn điều đó: Thượng đế có những lý do riêng và chúng ta không được hỏi tại sao. Nhưng câu trả lời này không thỏa mãn do cái định nghĩa rằng Thượng đế là toàn hảo. Là toàn hảo, Ngài chắc hẳn không chỉ đơn giản là cần phải toàn năng mà còn phải nhân từ nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Giải pháp khả thi cho vấn đề, theo truyền thống, được biết đến như vấn đề về tai ương, được đưa ra bởi những người dị giáo Manes [1] , những người tin rằng không chỉ có một tồn tại tối thượng, mà là hai: một là Thượng đế tốt, liên quan đến mọi điều Thiện, và một là Thượng đế xấu, tức Satan, liên quan đến mọi điều Ác trên đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">St Augustine, một môn đồ của Manes đầu những năm 20 (thế kỷ thứ 3) đã trở thành người phê phán mãnh liệt học thuyết này, cho rằng một Thượng đế yếu kém quyền năng trong việc đánh bại Satan là không đáng phụng sự.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Về mặt triết học, nếu Thượng đế là toàn hảo thì chỉ có thể có một Thượng đế toàn hảo, không phải hai. Trong mọi trường hợp, tai ương là sự không toàn hảo và vì thế không là một đặc điểm có thể làm nên thuộc tính của Thượng đế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nếu những viên đạn và mũi tên [2] của vận rủi ác nghiệt lại đóng vai trò, và những cái chết gây ra do sóng thần là kết quả vũ trụ của nghiệp chướng, thì có thể đưa ra một lời giải, dù là về mặt triết học thôi, cho vấn đề tai ương? Tôi nghĩ là không. Vì làm sao mà lũ trẻ, trong đó có những em chỉ vài tháng tuổi, thậm chí còn chưa kịp sống cuộc đời của chúng, lại đáng bị trừng phạt khắc nghiệt đến vậy cho tội lỗi quá khứ của chúng, đặc biệt khi chúng còn chưa được chào mời về một cơ hội thiêng liêng được hứa hẹn, để chuộc lại những tội lỗi đó thông qua một cuộc đời khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngay cả nếu các lời giải tương lai cho vấn đề hắc búa triết học này, nói về mặt nhân đạo, chúng đem lại rất ít ý nghĩa. Có lẽ đó là lý do tại sao một bộ phận dân chúng vẫn hoài nghi về sự hiện diện của Thượng đế thiêng liêng đang cai quản chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có một giải pháp thỏa hiệp, giữa chủ nghĩa hoài nghi thế tục và nhu cầu triết học cho cái thiêng liêng, đã được đưa ra từ triết gia Hy Lạp cổ đại Epicurus. Dù tin vào thần thánh, ông khẳng định những tồn tại thiêng liêng này không muốn thu hẹp hạnh phúc siêu phàm của họ do việc pha trộn vào những sự vụ thấp hèn của giống người khả tử. Với Epicurus, thần thánh không điên khùng, mà đơn giản là bàng quan trước cả hoan hỉ và phiền muộn của con người. Đứng trước những tai ương xã hội và tự nhiên, chúng ta hoàn toàn chỉ có một mình (mà không có thần thánh nào bên cạnh).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng nếu thảm họa tự nhiên đơn giản là những sự biến ngẫu nhiên gây ra do các lực tự nhiên không có lòng trắc ẩn và không có mắt, điều này có đem lại cho chúng ta sự thỏa mãn hay ý nghĩa nào không, khi trước mắt là những điều khải huyền vào dịp Boxing Day [3] ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngay cả khi cái đầu của chúng ta đưa những lời giải như vậy, con tim của chúng ta cũng từ chối nghe theo. Vì tai ương là vấn đề sinh tồn, đối diện sự sống chết và thương tổn cá nhân của chính chúng ta trước những thảm họa không biết trước và không mong đợi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Sau hết, những giọt nước mắt thành tâm đầy trắc ẩn tuôn rơi, cùng những trợ giúp nhân ái dành cho những người đã trải qua thảm cảnh, là có ý nghĩa hơn bất kỳ một luận thuyết thần học hay triết học nào về tai ương. Đặc biệt vào dịp Giáng sinh, khi mà, theo Phúc âm, yêu thương là sứ điệp duy nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Có lẽ đấy là thực chất – nếu huyền thoại là sư thật – điều mà Thượng đế học hỏi từ chúng ta khi Ngài rảo bước và trải qua những điều như một người trong chúng ta trải qua. Rốt cuộc thì vấn đề tai ương đối diện trước chúng ta không phải là một vấn đề nan giải, mà như một huyền diệu được trải nghiệm. Và theo như Jesus, và Plato – trước khi đức Chúa con chỉ báo, ý nghĩa sự huyền diệu cuộc sống có thể chỉ được nhận thấy bằng sự trải nghiệm một huyền diệu vĩ đại khác – sự huyền diệu của yêu thương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><em><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tiến sĩ Edward Spence là triết gia tại Trung tâm Triết học Ứng dụng và Đạo đức Cộng đồng, Charles Sturt University.</span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">[1]Một tôn giáo do Manes sáng lập vào thế kỷ thứ 3, như sự tổng hợp giữa tôn thờ nhị nguyên đối với ánh sáng và bóng tối, cùng với tín ngưỡng dân gian Babylon, đạo đức Phật giáo, và những yếu tố bề mặt của Công giáo; ảnh hưởng rộng khắp ở Đế quốc La Mã, nhưng tàn lụi hoàn toàn vào năm 1000.<br />
[2]Nguyên văn: If the slings and arrows…<br />
[3]Boxing Day: Ngày lễ vào ngày làm việc ngay sau ngày Giáng Sinh, dịp để chủ nhà tặng quà cho người phát hàng, phát thư…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguồn:</strong> http://www.smh.com.au/news/Opinion/Waves-of-destruction-wash-away-belief-in-Gods-benevolence/2004/12/29/1103996611542.html?oneclick=true</span></p>
<p style="text-align: center;" align="center"> <a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/chua_nhantu.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5089" title="chua_nhantu" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/chua_nhantu.jpg" alt="" width="400" height="355" /></a><span style="color: #800000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: medium;"><strong>MỘT THƯỢNG ĐẾ TOÀN NĂNG, TOÀN THIỆN<br />
và<br />
MỘT THẾ GIỚI ĐẦY BẤT TRẮC</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Người ta vẫn thường thắc mắc: Tại sao Thiên Chúa không dùng quyền năng của mình mà ngăn chặn các vụ thiên tai gây đau khổ chết chóc cho con người?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Câu hỏi thể hiện sự thao thức của lương tâm con người đòi đặt lại vấn đề Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện khi họ phải đối diện với vô vàn đau khổ chết chóc do thiên tai đưa đến. Đó là vấn nạn muôn thuở của con người với những tham vọng vô biên trong thân phận hữu hạn của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, vấn đề sự dữ và đau khổ nơi con người với tư cách là một thụ tạo của Thiên Chúa toàn tri, toàn năng và toàn thiện, luôn được đặt ra như một vấn nạn không có câu trả lời thỏa đáng. Dưới nhãn quan của Manichéisme, thế giới này luôn tồn tại hai nguyên lý, một nguyên lý là tốt, đó là Thiên Chúa, tinh thần hay ánh sáng ; còn nguyên lý kia là xấu, đó là ma quỷ, vật chất hay tối tăm. Dưới cái nhìn phân định tách bạch trong cấu trúc tổng thể của con người và trong thế giới: Xác và hồn, Thiện và Ác, cái thiêng liêng và cái phàm tục, Nhị nguyên thuyết cũng nêu lên hai nguồn gốc làm phát sinh sự dữ và sự thiện. Hệ quả là người ta chủ trương khinh chê thân xác và ghét bỏ những thực tại trần thế như là đầu mối gây ra đau khổ cho con người. Con người hiện đại với những phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật và những phát minh lẫy lừng của nó, nhưng vẫn không thể hóa giải được những vấn nạn hóc búa này, đặc biệt nơi những lập trường vô thần và cả nơi một số kitô hữu tuyên xưng đức tin vào một «Thiên Chúa toàn năng», tất cả như đang đi trong đường hầm tăm tối hay đang sờ soạng trong bóng đêm bất định của cuộc hiện sinh mang đầy tính phi lý này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Chúng ta đã biết đến «Thơ về thảm họa của Lit-bon» của Voltaire khi ông chứng kiến cảnh chết chóc của thành phố Lisbonne trong một trận động đất và sóng thần đã làm 60.000 người thiệt mạng vào năm 1755 tại Bồ Đào Nha. Nỗi chết chóc bao trùm dọc dài theo bờ biển Ibéria và Bắc Phi. Poème sur le désastre de Lisbonne của Voltaire viết vào năm 1756 là một chỉ trích độc địa tấn công vào biện thần luận đang thịnh hành vào thời bấy giờ. Ông tấn công vào những lập luận «mọi thứ đều tốt», «mọi thứ đều cần thiết», vũ trụ này là một sự hài hòa tinh tế giữa nỗi đau và niềm vui, có cái tốt nhất cho mọi thế giới khả dĩ tồn tại. Voltaire đã thể hiện một sự khinh miệt vô hạn bằng những lập luận phi bác: bằng những tính toán gì về sự an lành vũ trụ mà người ta có thể tìm ra giá trị nơi “những đứa bé đói khát nhai nát bầu vú mẹ”, nơi sự chết lặng của “những cư dân buồn bã tại các vùng biển tan hoang”, nơi chỉ toàn là “những hỗn loạn chí tử của những con người cùng cực”? Người ta cũng đang nói như John Mackie, một triết gia người Anh, rằng <em>nếu trong thế giới này có phép lạ thì phép lạ đó chính là việc có nhiều người ngày nay vẫn còn tin có Thượng đế</em>. Tất cả đó là những cật vấn của con người về một Thượng đế chí thiện chí mỹ khi họ phải chứng kiến những cảnh tàn phá của Đệ nhất thế chiến đã làm hơn 10 triệu người bị bỏ mạng, hay khi thấy cả Châu âu chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1919, có tới 20 triệu người bị chết do dịch cúm spanish, tương đương với số người chết do bệnh dịch hạch ở thế kỷ thứ 14. Cách đây 6 năm, vào cuối tháng 12 năm 2004, có vẻ như người ta cũng hết nói về một Thượng đế toàn năng và từ tâm khi phải đối diện với sự khắc nghiệt mênh mông của đau khổ với hàng chục ngàn xác người mà 1/3 trong số đó là trẻ em vô tội, trải dài trên vành đai duyên hải Ấn độ dương. Và hầu như hằng năm, trên dải đất miền Trung của Việt Nam chúng ta, cứ đến hẹn lại về, cuồng phong bão tố kéo theo mưa lũ tới tấp đổ xuống khúc ruột thân yêu này. Đứng trước những cảnh tượng tang thương do thiên tai gây ra, người ta cũng đã, đang và sẽ nêu lên những vấn nạn dạng như «những chấn động của hồ nghi» hay «những cơn sóng hủy diệt cuốn đi niềm tin vào sự nhân từ và toàn năng của Thượng đế». Cùng với vô vàn những nỗi đau khác nơi từng phận người do sự bất công trong xã hội, do bệnh tật… người ta đang tra vấn về những thuộc tính của Thượng đế. Đây là những tiếng kêu than của kiếp người, mà ngay cả Augustin, vị đại thánh của Giáo hội, khi Ngài đang là tín đồ nhiệt thành của tà giáo Maniké cũng đã từng chối bỏ phụng sự một «Thượng đế yếu kém quyền năng trong việc đánh bại Satan» và để mặc cho sự dữ hoành hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Quả thật, để cắt nghĩa một cách rốt ráo và thấu đạt mọi lý lẽ cho những vấn nạn này bằng những lập luận của lý trí là không thể. Nói như thế không có nghĩa là chối bỏ lý trí trong việc chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế và gọi tên những thuộc tính của Ngài, để chấp nhận một thứ lý trí què quặt và phụng thờ một thứ chân lý đi cà thọt. Nhưng Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI trong <em>Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay,</em> ít nhiều minh chứng cho chúng ta về điều này: <em>«Thiên Chúa mãi mãi lớn hơn mọi ý niệm, mọi hình ảnh, mọi danh xưng của con người chúng ta. Việc chúng ta tuyên xưng Ngài là Một (Thiên Chúa) – Ba (Ngôi) không có nghĩa là giờ đây chúng ta đã hiểu hết về Ngài. Ngược lại, điều đó chứng tỏ hiểu biết của chúng ta ít ỏi như thế nào và chứng tỏ Ngài vô phương hiểu biết, vô phương thấu triệt đến mức nào. Ngày nay, sau những tội ác kinh hoàng của các chế độ độc tài (mà Auschwitz có thể xem như biểu tượng), vấn đề thần lý học lại được đặt ra cách hết sức nhức nhối, và điều đó càng cho thấy là chúng ta không thể định nghĩa Thiên Chúa và càng không thể thấu hiểu Ngài».</em> Tuy nhiên, không ai chối cãi được sự nổi loạn của những con ngựa hoang tư tưởng trong chính bản thân mình đã dẫn chúng ta bước vào đêm tối tâm linh. Thánh nữ Têrêxa Lisieux, người được tắm gội trong một đức tin tinh ròng thuần khiết, như là hơi thở, máu thịt của chị, thì vào những phút cuối của cuộc đời, trong đau đớn bệnh tật, chị cũng đã phải thốt lên những lời làm chấn động đức tin nhiều người. Phải chăng lý trí đã bị khuất phục để chúng ta chấp nhận phụng sự một Thượng đế theo sự thúc đấy của bản năng thích tìm kiếm, thích tra vấn, nhưng giờ đây lý trí như một con tàu không tìm được bến bờ neo đậu đã bị chìm khuất trong đại dương trùng khơi sóng nước của khổ đau?!.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Nhưng chúng ta vẫn nói được về một Thượng đế toàn năng, toàn thiện đồng thời với một thế giới đầy bất trắc, khiếm khuyết, của một nhân loại bất toàn, đau khổ bằng những luận giải của lý trí<em>: «Lý trí có thể nói về Thiên Chúa, nó cần phải nói về Thiên Chúa, nếu không tự nó sẽ trở thành què quặt&#8230; Thế giới này không phải là một chốn ảo ảnh mà chúng ta rốt cuộc phải rời xa. Nó cũng không chỉ là bánh xe luân hồi vô tận của đau khổ cần phải cố gắng để chạy thoát… </em>(Vì)<em> Thế giới này là thực. Mặc cho mọi sự dữ, mặc cho mọi đau khổ, thế giới này vẫn là tốt đẹp, vẫn là đáng sống»</em> (sđd). Cùng với thánh Augustin, người đã từng chối từ phụng sự vị Thượng đế bất lực, nêu câu hỏi về vấn đề này: Nếu có Thiên Chúa thì sự dữ do đâu mà có? Nhưng nếu không có Thiên Chúa thì sự thiện, sự lành do đâu mà có? Hỏi như thế là đã hàm một câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất. Thượng đế là sự thiện tuyệt đối hiểu như là điều mà mọi vật đều ước ao, thuộc phạm trù siêu nghiệm, nói lên phẩm tính lôi cuốn của hữu thể, có khả năng khơi động sự thèm muốn tự nhiên hoặc tự ý nơi một chủ thể khác; Thượng đế là sự thiện tuyệt đối hiểu như là hữu thể vô biên, tuyệt đối tốt lành và có bản chất tốt lành, chỉ mình Ngài có khả năng thỏa mãn sự ước ao và mọi khuynh hướng của mọi hữu thể. Vì thế nơi Thượng đế không có sự ác và tất cả thụ tạo của Ngài đều tốt đẹp như thuở ban đầu của công trình sáng tạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy thì tại sao lại có những sự ác vật lý là các thiên tai xẩy ra gây bao đau thương cho con người, trong khi Thượng đế toàn năng và toàn thiện có thể chế ngự được chúng? Trước hết chúng ta phải hiểu rằng những thiên tai chỉ là hậu quả của các định luật vật lý chi phối vũ trụ. Thí dụ như chuyển động của thủy triều là do sự thay đổi lực hấp dẫn từ mặt trăng và từ các thiên thể khác (như mặt trời) tại một điểm bất kỳ trên bề mặt trái đất, trong khi trái đất quay đã tạo nên hiện tượng triều lên và triều xuống vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày; Động đất thường là kết quả của sự chuyển động của các phay (<em>geologic fault</em>) hay những bộ phận đứt gãy trên vỏ của trái đất cấu tạo chủ yếu từ chất rắn như đất, đá; núi lửa là một hiện tượng tự nhiên trên trái đất do các khoáng chất nóng chảy với nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài; hay như sóng thần cũng là một hiện tượng tự nhiên xẩy ra do sự chuyển dịch nhanh chóng của một loạt các đợt sóng trên một quy mô lớn, nó xẩy ra do các vụ động đất lớn, các dịch chuyển địa chất lớn bên trên hay bên dưới mặt nước. Các đợt núi lửa phun và những vụ va chạm thiên thạch cũng gây ra sóng thần… Đó là những hiện tượng tự nhiên, những hiện tượng này tự thân nó mang những sự tốt lành của quá trình vận động và phát triển của vũ trụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngày nay, nhờ trí khôn, con người ngày càng có khả năng hiểu biết các sức mạnh của thiên nhiên, chế ngự và sử dụng chúng, như thác nước từ trên núi đổ xuống tàn phá mọi thứ, nhưng khi được kỹ thuật thu lấy, nó sẽ cung cấp điện cho con người. Người ta cũng biết lợi dụng sức gió để làm quay các tua-bin phát điện, biến năng lượng ánh sáng mặt trời thành điện phục vụ cho cuộc sống con người&#8230; Nếu bạn đã được đứng trên bờ biển Biarritz ở miền Nam nước Pháp vào lúc hoàng hôn buông xuống thì tôi đoan chắc là bạn không thể không thốt lên một lời ngợi ca sự tài tình của tạo hóa chí công nếu bạn còn là người biết cảm thụ cái đẹp. Và vô vàn những điều hữu ích khác của thiên nhiên cung cấp cho con người mà khi đem so với các thiên tai thì chẳng đáng là gì. Con người cần biết tôn trọng quy luật tự nhiên để nó ban tặng cho con người kho tàng vô giá của nó. Nhưng do tham vọng khai thác và biến cải thiên nhiên theo ước muốn của mình, con người đã làm mất đi sự quân bình hoàn hảo của những định luật vốn có của nó, khiến thiên nhiên «nổi giận» mà sinh ra bao tai họa đau thương. Ngày nay, các nhà khoa học trên thế giới, các nhà lãnh đạo các quốc gia, hằng năm, đang ngồi lại với nhau để tìm cách đối phó với sự nóng lên của vỏ trái đất, hậu quả của việc phát triển kinh tế mà bất chấp các định luật của thiên nhiên. Và người ta cũng đã ý thức được điều đó là do con người gây nên trong khi lo chạy đua với phát triển kinh tế, phát triển vũ trang mà không chú ý đến việc tái tạo môi trường bị phá hủy. Định luật tự nhiên đã được tạo hóa thiết đặt và nằm trong sự hài hòa tuyệt vời của nó, con người không thể uốn nắn thay đổi nó theo mong muốn riêng của mình được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Con người được định vị trong thời gian, không gian nhất định, chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, có đói khát, đau đớn, có ưu tư phiền muộn xen lẫn những niềm vui. Trong quá trình sinh sống, con người cũng phải lao động để tạo ra của cải vật chất. Muốn di chuyển từ nơi này đến nơi khác, con người phải tự vận động hoặc nhờ sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, và trong quá trình đó có ai giám chắc là mình được an toàn tuyệt đối. Con người còn có cộng đồng của mình và sống trong các mối tương quan với nhau, vì thế một cá nhân không thể muốn làm gì thì làm mà không chú ý đến quyền và lợi ích của kẻ khác. Người ta cũng không thể tưởng tượng được một thế giới mà ở đó chỉ có toàn là những điều tốt lành, nếu thế thì đó là một thế giới chết. Thế giới tồn tại trong thể thống nhất của các mặt đối lập: cái ác và cái thiện, cái xấu và cái đẹp&#8230; Nhưng trong tính toàn thể của vũ trụ và xét về bản nguyên của nó, cái ác không phải là một thực tại, một bản chất mà chỉ là một sự khiếm khuyết, một sự thiếu vắng của một điều tốt lẽ ra phải có. Mưa, gió… tự nó không có gì xấu, nhưng trong một điều kiện địa hình nào đó nó trở thành sức mạnh tàn phá. Mọi sự vật đều tốt trong tính tự thân của nó, chúng chỉ trở thành xấu xa ác hại khi bị con người sử dụng theo mục đích xấu. Hoặc có những sự vật, hiện tượng tốt cho người này, ở vùng này với những đặc thù của nghề nghiệp và điều kiện sinh sống phù hợp, nhưng lại có thể không tốt cho người khác ở vùng khác (hoặc có khi trong cùng một địa bàn nhỏ) với những tính chất nghề nghiệp, điều kiện sinh sống khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Đối với các thiên tai xẩy ra, ở một chừng mực nào đó, nó có những tác dụng nhất định. Gió bão làm thay đổi bầu không khí, mưa lũ làm bồi thêm phù sa cho đất. Chúng ta cũng thấy qua một thảm họa, con người như xích lại gần nhau hơn trong tình tương thân tương ái. Người ta nhận thấy trước khi xẩy ra vụ khủng bố 11/9/2001 người dân thành phố New Yort dường như lạnh lùng nhửng nhưng với nhau, vì được sống trong một xã hội có các chế độ an sinh xã hội quá ư hoàn hảo, người ta ít cần đến sự giúp đỡ của nhau. Nhưng sau ngày đại họa đó, họ có thái độ cư xử với nhau khác hơn, họ cũng suy tư nhiều hơn về tính chất mỏng dòn và chóng qua của phận người, họ cần đến Chúa và cần đến nhau hơn. Sau trận bão Katrina tàn phá miền đông nam Hoa Kỳ, người ta cũng thấy có một hiệu ứng tương tự trong cách sống của người dân ở thành phố New Orleans… Và đau khổ chính là môi trường thanh luyện con người tốt nhất. Ai chưa qua một khổ đau nào, người đó chưa thật sự là người đúng nghĩa và vẫn còn đang đi trong lầm lạc, như Thánh vịnh: <em>«Con lầm lạc khi chưa bị khổ»</em> (Tv 119, 67), nhưng phải ngang qua đau khổ mới thấu hiểu được phận người và thêm yêu mến Luật Chúa: <em>«Đau khổ quả là điều hữu ích, để giúp con học biết thánh chỉ Ngài»</em> (Tv 119, 71). Chỉ suy ngẫm chừng ấy thôi chúng ta cũng thấy được những chứng lý về sự hiện hữu của Thượng đế cùng những thuộc tính nhân từ, toàn năng của Người là hữu lý và nhiều hơn những chứng lý phản bác. Có điều người ta có còn đủ liêm khiết trí tuệ và chịu khó tra vấn, truy tầm nữa không thôi, và nhất là đừng để những bóng ma định kiến ám ảnh làm lu mờ tâm trí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Muôn đời, thái độ khiêm tốn luôn là thái độ chân chính của con người thật sự muốn truy tầm chân lý. Cơn cám dỗ cần phải giết chết Thượng đế để đưa con người lên làm Chúa luôn thôi thúc con người đặt ra những vấn nạn về Người. Lạy Chúa, xin cho con biết con và xin cho con biết Chúa để con phụng thờ Chúa và sống đúng nghĩa phận người. Xin cho con biết kính sợ Chúa là đầu mối của mọi sự khôn ngoan. Thật vậy, từ tháp Babel đến con tàu Titanic đến tháp đôi WTC, những công trình ngạo nghễ của con người như là biểu tượng của sự kiêu mãn đã bị phá đổ. Não trạng của con người thời đại vẫn luôn muốn chất vấn về sự quyền năng và từ tâm của Chúa vì con người vẫn chưa biết mình là ai./.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #800000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Đăng Trình</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: tahoma,arial,helvetica,sans-serif; font-size: x-small;">1/ L.Leahy, <em>Con người và vấn đề Thượng đế,</em> Phân khoa thần học, Giáo Hoàng học viện PioX Đà Lạt, 1975<br />
2/ Karl – Heinz Weger, <em>Phê bình tôn giáo qua các tác giả</em><br />
3/ Loạt bài tranh luận về Thượng đế của hai tác giả Thích Bình Thường và Đỗ Xuân Phương đăng trên Talawas.org<br />
4/ David B. Hart, Những chấn động của hồ nghi, Lê Trần Huy Phú chuyển ngữ, Talawas ngày 07/01/2005<br />
5/ 2/ Joseph Ratzinger, <em>Đức tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay,</em> Lm. Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Thái chuyển ngữ, NXB Tôn giáo 2009.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2012/03/13/m%e1%bb%99t-nam-sau-th%e1%ba%a3m-h%e1%bb%8da-d%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-song-th%e1%ba%a7n-%e1%bb%9f-nh%e1%ba%adt-b%e1%ba%a3n-d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-nh%e1%bb%afng-tranh-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thuyết vô thần – dấu hiệu của Kitô hữu chân chính</title>
		<link>http://www.lamhong.org/2012/03/13/thuy%e1%ba%bft-vo-th%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a5u-hi%e1%bb%87u-c%e1%bb%a7a-kito-h%e1%bb%afu-chan-chinh/</link>
		<comments>http://www.lamhong.org/2012/03/13/thuy%e1%ba%bft-vo-th%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a5u-hi%e1%bb%87u-c%e1%bb%a7a-kito-h%e1%bb%afu-chan-chinh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 13 Mar 2012 00:56:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DangTrinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Features]]></category>
		<category><![CDATA[Giáo lý Công giáo]]></category>
		<category><![CDATA[Đức tin & Đời sống]]></category>
		<category><![CDATA[dấu hiệu]]></category>
		<category><![CDATA[Kitô hữu]]></category>
		<category><![CDATA[vô thần]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.lamhong.org/?p=5077</guid>
		<description><![CDATA[Thái độ hoài nghi những lời khẳng định về Thượng đế hay các vị thần... <a class="meta-more" href="http://www.lamhong.org/2012/03/13/thuy%e1%ba%bft-vo-th%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a5u-hi%e1%bb%87u-c%e1%bb%a7a-kito-h%e1%bb%afu-chan-chinh/">more <span class="meta-nav">&#187;</span></a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #333300;"><strong>Thái độ hoài nghi những lời khẳng định về Thượng đế hay các vị thần linh chắc hẳn là dấu hiệu của Kitô hữu, cũng như đối với người Do Thái và Hồi giáo. “Không có Chúa nào khác ngoài Ta” (Isaiah 21,45).</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a class="highslide" onclick="return vz.expand(this)" href="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/William-Grimm.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-5078" title="William Grimm" src="http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2012/03/William-Grimm.jpg" alt="" width="400" height="270" /></a>Một người bạn sùng đạo lo lắng khi đọc một cuốn sách nói về những người vô thần chiêu mộ tín đồ (tôi nghĩ đó là Richard Dawkins) thấy mình đồng tình với cuốn sách đó. Tôi cam đoan với anh ta rằng đồng tình 99% với những người vô thần là lập trường mang tính Kitô giáo sâu sắc. Chúng ta cũng không tin có Thượng đế hay các thần thánh mà họ không tin. Chúng ta tin một Thiên Chúa duy nhất mà họ thường không chú ý tới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thực ra trong cuộc bách hại do Rôma, lời buộc tội chính nhằm vào Kitô hữu là thuyết vô thần. Chúng ta đã không tin vào các thần linh và tôn kính họ cách xứng đáng. Một trong những lý do Thánh Augustinô viết cuốn Thành Đô Thiên Chúa là nhằm bác bỏ những lời buộc tội Kitô hữu không chịu tôn kính các vị thần linh đã khiến cho Rôma sụp đổ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Thái độ hoài nghi những lời khẳng định về Thượng đế hay các vị thần linh chắc hẳn là dấu hiệu của Kitô hữu, cũng như đối với người Do Thái và Hồi giáo. “Không có Chúa nào khác ngoài Ta” (Isaiah 21,45).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Tuy nhiên, Kitô hữu thường tạo ra các thần linh mới theo hình ảnh và quan niệm riêng. May thay, đó là những vị thần nhỏ thường bị những người vô thần công kích rất thành công, làm thay cho Giáo Hội. Chúng ta nên cám ơn họ đã giúp cứu chúng ta khỏi cái gọi là Kitô giáo mà thực ra là ngoại giáo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Một thí dụ điển hình đó là sự tiên đoán ngày tận thế gần đây nhất. Một mục sư ở Mỹ tuyên bố vào ngày 21-5 Thiên Chúa sẽ bắt đầu hủy diệt thế giới bằng cách kéo tất cả những người được cứu rỗi khỏi trái đất và dành sáu tháng gây kinh hoàng và đau khổ trước khi xóa sổ mọi loài thụ tạo. Mục sư này đã tính lại và khẳng định ngày tận thế mới là 21-10. Mặc dù ông tuyên bố mình là Kitô hữu nhưng rõ ràng chúa của ông không có thật. Đó là dự đoán của ông và tín đồ của ông tự mãn tin rằng tình yêu của Thiên Chúa chỉ dành cho họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Dĩ nhiên, khuynh hướng này không giới hạn ở các tín đồ Tin Lành truyền đạo. Không thiếu người Công giáo theo thuyết đa thần và chúng ta cần lật tẩy các vị thần và á thần của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Lòng sùng kính Đức Mẹ tập trung ở Akita, Nhật Bản. Được biết một nữ tu được Đức Mẹ hiện ra và nói: “Để thế giới có thể biết được cơn thịnh nộ của mình, Chúa Cha đang chuẩn bị trừng phạt thật nặng tất cả loài người. Cùng với Con ta, ta đã can thiệp rất nhiều lần để xoa dịu cơn phẫn nộ của Chúa Cha”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Ngoài xu hướng đáng tiếc nơi một số người Công giáo – thực ra nếu không nói là công thức – tôn sùng Đức Mẹ, hình ảnh này của Thiên Chúa đáng bị người Kitô hữu bắt tay cùng người vô thần vạch trần. Nếu Chúa Con đoàn kết với Mẹ mình cản trở Chúa Cha, đó không phải là thần học. Đó là cái được Freud gọi là Mặc cảm Oedipus. Tệ hơn thế đó là nó thực sự thừa nhận hai Thiên Chúa, vì nó phủ nhận sự kết hiệp hoàn hảo của Chúa Cha và Chúa Con trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Một người đầy phẫn nộ, người còn lại với sự giúp đỡ của mẹ mình, phản đối và khoan dung. Cả hai đều không thực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Vậy chúng ra có thể tìm thấy một Thiên Chúa duy nhất thật sự ở đâu?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Trên thánh giá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Không có nơi nào khác chúng ta có thể tìm thấy khuôn mẫu giúp giải thích Kinh thánh, thần học, trải nghiệm hay suy đoán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Và chúng ta biết gì về Thiên Chúa ở đó? Đó là Thiên Chúa khoan dung, chịu đựng đau khổ hơn là gây đau khổ, không coi thường quyền tự do của con người, không kêu gọi thiên thần hay mẹ mình thay đổi sự thật, không thao túng thế giới bằng bất cứ quyền lực nào ngoại trừ tình yêu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Những vị “thần” nào không vác thập giá thì đáng đưa cho người vô thần thờ. Và người nào trong chúng ta, bằng lời nói, cầu nguyện, việc làm hay thái độ chứng minh mình tin có các thần linh khác thì cần theo gương của thuyết vô thần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;">Linh mục William Grimm sống ở Tokyo phụ trách xuất bản của UCA News, và là cựu trưởng ban biên tập tờ tuần báo Công giáo Nhật “Katorikku Shimbun”.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: right;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><a href="http://tgpsaigon.net/category/t%C3%A1c-gi%E1%BA%A3/linh-m%E1%BB%A5c-william-grimm"><span style="color: #800000;">Linh mục William Grimm</span></a></span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-family: times new roman,times; font-size: medium;"><strong>Nguồn:</strong> ucanews</span></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.lamhong.org/2012/03/13/thuy%e1%ba%bft-vo-th%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a5u-hi%e1%bb%87u-c%e1%bb%a7a-kito-h%e1%bb%afu-chan-chinh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
